1. Tư vấn soạn thảo biên bản thỏa thuận về ngõ đi chung?

Thưa luật sư, tôi muốn viết một biên bản thỏa thuận giữa các bên về con đường sử dụng chung cho tất cả mọi người thì nội dung của biên bản này được viết như thế nào? Luật sư có thể giải đáp giúp tôi được không? Tôi xin cảm ơn !

Người hỏi: Nguyễn Văn Điệp

Tư vấn soạn thảo biên bản thỏa thuận về ngõ đi chung ?

Để có một thỏa thuận về lối đi chung hợp pháp thì thỏa thuận cần được lập thành văn bản, có chữ ký của các bên tham gia thỏa thuận, và biên bản phải được chứng thực tại UBND cấp xã, phường hoặc văn phòng công chứng. Bạn có thể tham khảo mẫu biên bản dưới đây:

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

------***------

BIÊN BẢN THỎA THUẬN LỐI ĐI CHUNG

Vào hồi …… giờ, ngày …… tháng …… năm …….., tại (1).....................................

Chúng tôi gồm những ông bà có tên sau đây:

1. Ông (bà):………………….. Sinh ngày:………………Giới tính:........................................

Số CMND:……………….....................Ngày cấp: ………….......... Nơi cấp:………………

Số điện thoại:……………………………...........................................................................

Địa chỉ thường trú:……………………………………........................................................

2. Ông (bà):………………….. Sinh ngày:…………………………Giới tính:..........................

Số CMND:…………….......... Ngày cấp: ………….......... Nơi cấp:……………….............

Số điện thoại:……………………………..........................................................................

Địa chỉ thường trú:…………………………………….......................................................

3. Ông (bà):…………………… Sinh ngày:…………………Giới tính:...................................

Số CMND:………...... Ngày cấp: …………........ Nơi cấp:………………..........................

Số điện thoại:……………………………........................................................................

Địa chỉ thường trú:……………………………………........................................................

Chúng tôi đã thống nhất về việc lối đi chung giữa các hộ, cụ thể nội như sau:

1. Các hộ được phép sử dụng lối đi chung dài…… m, rộng….. m tại (2) …………………

2. Trong quá trình sử dụng cùng nhau chịu trách nhiệm về việc đảm bảo vệ sinh lối đi chung, sửa chữa để thuận tiện trong quá trình đi lại.

3. Khi một trong các hộ chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác thì người đó vẫn được tiếp tục sử dụng lối đi chung và có trách nhiệm chung với các hộ còn lại về việc vệ sinh, sửa chữa lối đi.

4. Biên bản thỏa thuận được lập thành …….. bản, có giá trị pháp lý như nhau.

Các hộ đã nhất trí thông qua nội dung biên bản và cùng ký xác nhận.

Xác nhận của UBND/Văn phòng công chứng

(ký, ghi rõ họ tên) ​

Lưu ý: (1) ghi địa điểm tiến hành lập biên bản thỏa thuận; (2) Miêu tả vị trí lối đi cần thỏa thuận.

>> Xem thêm: Phần đất và phần không gian trên phần lối đi chung được quy định như thế nào trong xây dựng?

2. Tranh chấp cổng ngõ đi chung giải quyết thế nào?

Thưa luật sư, hai gia đình ông S và ông A có 1 cổng đi chung được thể hiện trên bản đồ địa chính xã năm 1986. Đến năm 1993, đo đạc lại bản đồ lại đo đạc phần cổng đi chung kia vào đất của gia đình ông S và gia đình ông S đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng trên thực tế 2 gia đình vẫn để làm cổng đi chung.
Nay ông S và ông A đều đã mất, con ông S thuê máy về lấp cổng đi chung làm cho gia đình con trai ông A không có đường đi lại. Xin luật sư tư vấn giúp tôi cách giải quyết và những quy định gì về cổng đi chung này? Tôi xin trân thành cảm ơn!
- Tạ Thị Thu Hương -

3. Giải quyết tranh chấp ngõ đi chung như thế nào?

Xin chào luật sư, xin luật sư cho tôi hỏi: Gia đình tôi và gia đình bên cạnh trước đây có ngõ đi chung, sau khi chúng tôi làm nhà không đi nữa, gia đình bên cạnh xây lấn chiếm hết phần ngõ đi chung, nay gia đình tôi muốn đòi lại ngõ đi chung để gia đình tôi mở ngõ đi ra lối đó thì làm như thế nào? Và gia đình tôi đòi lại như vậy có đúng không, nếu đúng thì hướng giải quyết như thế nào?
Xin luật sư tư vấn giúp. Trân trọng cảm ơn.
- Vũ Xuân Khanh -

4. Tư vấn quyền sử dụng đất: Quyền sử dụng và quyền sở hữu đối với ngõ đi chung?

Thưa luật sư! Nhà tôi ở quận 10, trước nhà tôi có con hẻm nhỏ, và gia đình tôi xây thêm 2 cái gác (làm bằng gỗ và tôn) ở trong hẻm nhỏ đó, và đã ở hơn 10 năm. Vậy gia đình tôi có quyền sở hữu và quyền sử dụng cái gác đó không?

Nếu như gia đình tôi mà sửa chữa nhà, vẫn giữ nguyên diện tích cái gác đang ở, nhưng thay gỗ bằng gạch men, thì gia đình tôi được sửa chữa không? Và có vi phạm về luật nào không? Nếu có xin luật sư nêu rõ và giúp gia đình tôi có phương án giải quyết. Rất mong sự phản hồi của luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tư vấn quyền sử dụng đất: Quyền sử dụng và quyền sở hữu đối với ngõ đi chung ?

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến, gọi: 1900.1975

Trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp, thì gia đình bạn đã xây thêm hai cái gác trong con hẻm nhưng chưa được cấp phép xây dựng. Cho nên theo quy định tại Điều 12 về những hành vi bị nghiêm cấm của Luật xây dựng 2014 thì:

"Điều 12: Những hành vi bị nghiêm cấm

1. Quyết định đầu tư xây dựng không đúng với quy định của luật này.

2. Khởi công xây dựng công trình khi chưa đủ điều kiện khởi công theo quy định của Luật này.

3. Xây dựng công trình trong khu vực cấm xây dựng; xây dựng công trình lấn chiếm hành lang bảo vệ công trình quốc phòng, an ninh, giao thông, thuỷ lợi, đê điều, năng lượng, khu di tích lịch sử - văn hoá và khu vực bảo vệ công trình khác theo quy định của pháp luật; xây dựng công trình ở khu vực đã được cảnh báo về nguy cơ lở đất, lũ quét, lũ ống, trừ công trình xây dựng để khắc phục những hiện tượng này.

4. Xây dựng công trình không đúng quy hoạch xây dựng, trừ trường hợp có giấy phép xây dựng có thời hạn; vi phạm chỉ giới xây dựng, cốt xây dựng; xây dựng công trình không đúng với giấy phép xây dựng được cấp.

5. Lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán của công trình xây dựng sử dụng vốn nhà nước trái với quy định của Luật này.

6. Nhà thầu tham gia hoạt động xây dựng khi không đủ điều kiện năng lực để thực hiện hoạt động xây dựng.

7. Chủ đầu tư lựa chọn nhà thầu không đủ điều kiện năng lực để thực hiện hoạt động xây dựng.

8. Xây dựng công trình không tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật được lựa chọn áp dụng cho công trình."

Như vậy, gia đình bạn đã vi phạm điều cấm là xây dựng không đúng quy hoạch, không có giấy phép xây dựng. Cho nên hai căn gác xếp đó không thuộc quyền sở hữu của gia đình bạn. Với hành vi này, gia đình bạn còn có thể bị xử phạt theo quy định tại Điều 14 của Nghị định 139/2017/NĐ-CP về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng; khai thác, chế biến, kinh doanh khoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; kinh doanh bất động sản, phát triển nhà ở, quản lý sử dụng nhà và công sở quy định về vi phạm quy định về khởi công xây dựng công trình như sau:

"1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Không gửi văn bản thông báo ngày khởi công cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xây dựng công trình theo quy định (đối với trường hợp phải có giấy phép xây dựng);

b) Không thông báo, thông báo chậm cho cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng tại địa phương về thời điểm khởi công xây dựng hoặc có thông báo nhưng không gửi kèm hồ sơ thiết kế xây dựng theo quy định đối với trường hợp được miễn giấy phép xây dựng;

c) Không gửi báo cáo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc gửi báo cáo không đầy đủ tên, địa chỉ liên lạc, tên công trình, địa điểm xây dựng, quy mô xây dựng, tiến độ thi công dự kiến sau khi khởi công xây dựng theo quy định.

..."

Vì vậy, theo chúng tôi bạn không nên xây dựng và sửa chữa gì thêm đối với hai căn gác này, và khi muốn xây dựng gia đình bạn phải xin cấp phép xây dựng, gia đình bạn chỉ được phép xây dựng khi và chỉ khi phù hợp với quy hoạch của địa phương, không trái với quy định của luật.

>> Tham khảo ngay: Hướng dẫn thủ tục hiến đất để làm lối đi chung?

5. Tư vấn giải quyết tranh chấp ngõ đi chung?

Kính chào Luật Minh Khuê. Tôi có câu hỏi mong được giải đáp như sau: Gia đình tôi mới mua mảnh đất ở Yên Nghĩa - Hà Đông.

Chẳng là tôi mua lại của chủ cũ thì họ đã có căn nhà ống cấp 4. Phía trước chủ cũ xây có bớt ra khoảng 1m1 (nằm trong diện tích đất sổ đỏ) để lưu thông đằng trước, và đằng trước nhà có khoảng 70cm chiều dài còn rộng khoảng 3.44 (chính là ngõ đi chung) theo nhà tôi mà hơn nữa nhà tôi là nhà trong cùng tức là lô cuối cùng trong 4 nhà có chung ngõ chung suốt từ ngoài. Hôm nhà tôi chuyển nhà có làm cửa và bắn mái tôn để làm chỗ để xe (cả diện tích nhà tôi để ra và diện tích ngõ chung lối nhỏ). Tôi cũng hỏi xin ý kiến của nhà chị hàng xóm bên cạnh và của bác đại diện xóm và đã làm cam kết là mục đích chỉ để xe. Nhưng đùng một cái chị hàng xóm lại quay 180 độ bảo không cho nhà tôi làm vậy. Cho tôi hỏi làm như thế nào để thỏa thuận với chị hàng xóm kia để cho nhà tôi sử dụng ngõ đi đó, ngõ chỉ vừa 1 cái xe máy, bình thường không ai đi vào mà chỉ có nhà tôi sử dụng. Nếu xảy ra tranh chấp thì làm thế nào để nhà tôi có lợi? Có thể mua lại chỗ diện tích ngõ đó và chứng minh sau này là quyền sử dụng của nhà tôi được không? Xin luật sư tư vấn và bày cách cho tôi để tôi được sử dụng số diện tích đó (tôi không có ý định là chiếm đoạt hay gì cả mà tôi chỉ nghĩ bình thường rất bé cũng không ai đi vào nên tôi có mượn thôi nhưng chị hàng xóm kia lại gây khó khăn với với tôi) rõ ràng diện tích ngõ nhà tôi có sử dụng cũng không làm ảnh hưởng đến gia đình nhà ai trong xóm.

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Người gửi: V.T

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự về ngõ đi chung : 1900.1975

Trả lời:

Trước tiên để giải đáp được những vấn đề của bạn, bạn cần làm rõ ai là người đang có quyền sử dụng đối với ngõ đi chung đấy, là của cá nhân, của hộ gia đình hay là không gian chung. Điều này được thể hiện rõ trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Như bạn nói, chủ cũ có bớt ra 1,1m để lấy lối đi, mà đất là nằm trong diện tích sổ đỏ. Trong trường hợp là của cá nhân, hộ gia đình mà ở đây là chị hàng xóm thì việc sử dụng lối đi chung vào những mục đích khác với những quy định tại Điều 246 Bộ luật dân sự năm 2015 là vi phạm quy định của pháp luật về quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề.

"Điều 246. Căn cứ xác lập quyền đối với bất động sản liền kề

Quyền đối với bất động sản liền kề được xác lập do địa thế tự nhiên, theo quy định của luật, theo thoả thuận hoặc theo di chúc."

Trong trường hợp đây là không gian chung giữa các hộ thì áp dụng khoản 1 Điều 175 Bộ luật dân sự 2015:

"Điều 175. Ranh giới giữa các bất động sản

1. Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thoả thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Ranh giới cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp.

Không được lấn, chiếm, thay đổi mốc giới ngăn cách, kể cả trường hợp ranh giới là kênh, mương, hào, rãnh, bờ ruộng. Mọi chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng, duy trì ranh giới chung."

Như vậy, nếu việc bạn để xe, xây dựng mái che làm ảnh hưởng đến những hộ khác là vi phạm quy định của pháp luật.

Đối với việc bạn muốn mua lại phần đất đó bạn cũng phải xác nhận quyền sử dụng diện tích đất đó thì mới có thể tiến hành những thủ tục hợp lý. Vì vậy, bạn có thể gửi đơn đến UBND để xác định lại diện tích ngõ chung ấy là đất trong sổ đỏ của gia đình bạn hay của chủ cũ hay của chung, đường công cộng thì bạn mới có cơ sở để yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết.

>> Tham khảo ngay: Tư vấn soạn hợp đồng mua bán thỏa thuận về lối đi chung?

6. Tranh chấp quyền sử dụng ngõ đi chung với anh em người bán sau khi mua?

Kính chào công ty Luật Minh Khuê, tôi có một vấn đề muốn nhận được sự tư vấn của quý công ty. Mong công ty cho tôi lời khuyên để tôi đòi lại quyền sử dụng đất (ngõ đi chung) chính đáng mà nhà nước đã công nhận cho tôi. Năm 2010, tôi mua mảnh đất của ông Đ. Qua tìm hiểu, tôi biết đất ông Đ không có tranh chấp gì và trên bản đồ trích lục của xã có ranh giới, ngõ đi rõ ràng.

Khi đã xong thủ tục pháp lý, sau một thời gian tôi đi vào sử dụng thì phần ngõ đi chung bị ông V (em trai ông Đ) xây chặn lại không cho tôi làm ngõ để đi vì có tranh chấp đất với mẹ. Mảnh đất hiện tại mang tên bà mẹ nhưng ông V nói là đất bố cho ông V. Tôi tìm hiểu và được biết ông V sống không có đạo đức nên lúc sống nhờ mượn được chén rượu nhờ bố uống lúc say nên ông bố nói cho nhưng sau khi bố chết không để lại giấy tờ, văn bản cho ông V mặc dù những người con khác đều có. Hiện tại, bà mẹ vẫn còn sống nhưng cũng tuyên bố là không cho ông V mảnh đất đó vì đã chia cho một mảnh ở chỗ khác rồi. Nói là không cho nhưng ông V vẫn cứ nhận là của mình và không cho ai động vào kể cả mẹ. Thực tế, tôi có nhờ chính quyền xã giúp tôi giải quyết tranh chấp này để tôi lấy lại quyền sử dụng ngõ đi nhưng chính quyền có vẻ e ngại vì ông V là Đảng viên và là thương binh. Còn Chủ tịch xã nói di chúc bằng lời nói cũng được lấy làm căn cứ (có giá trị). Tôi rất mong luật sư tư vấn cho tôi làm thế nào, dựa vào luật ra sao để tôi lấy lại quyền sử dụng đất hợp pháp mà nhà nước đã công nhận cho tôi? Tôi xin chân thành cảm ơn !

Người gửi: N.T.N

Trả lời:

Điều 254 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định quyền về lối đi qua như sau:

"1. Chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ.

Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi.

Chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền về lối đi qua phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Vị trí, giới hạn chiều dài, chiều rộng, chiều cao của lối đi do các bên thoả thuận, bảo đảm thuận tiện cho việc đi lại và ít gây phiền hà cho các bên; nếu có tranh chấp về lối đi thì có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác xác định.

3. Trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong theo quy định tại khoản 2 Điều này mà không có đền bù."

Cũng theo Điều 175 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về ranh giới giữa các bất động sản liền kề ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thoả thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ranh giới cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp. Không được lấn, chiếm, thay đổi mốc giới ngăn cách, kể cả trường hợp ranh giới là kênh, mương, hào, rãnh, bờ ruộng. Mọi chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng, duy trì ranh giới chung.

Trường hợp của bạn, năm 2010 bạn mua đất của ông Đ thời điểm không có tranh chấp và trên trích lục bản đồ của xã có ranh giới lối đi rõ ràng thì gia đình bạn hoàn toàn có quyền được sử dụng lối đi chung. Bạn có thể gặp và thỏa thuận với người em kia về lối đi chung, nếu như bạn đã làm tất cả những gì có thể mà người kia vẫn gây khó dễ thì bạn có thể gửi đơn đến UBND xã nhờ can thiệp. Nếu chính quyền địa phương bạn có vẻ e ngại vì ông V là Đảng viên và là thương binh, còn Chủ tịch xã nói di chúc bằng lời nói cũng được lấy làm căn cứ (có giá trị) là không có cơ sở, không đúng với quy định của pháp luật. Căn cứ Bộ luật Dân sự năm 2015 di chúc miệng chỉ có giá trị pháp luật khi đáp ứng đủ các điều kiện:

"Điều 629. Di chúc miệng

1. Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng.

2. Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị huỷ bỏ."

Cũng theo Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

- Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

- Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

- Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

Như vậy, di chúc của bố ông V để lại nếu không đáp ứng được các điều kiện trên thì đương nhiên không có giá trị, chưa kể đến việc khi lập di chúc bố ông V còn ở trong tranh thái không minh mẫn vì đang say rượu.

Việc chủ tịch UBND xã e ngại không giải quyết tranh chấp đất đai là không thực hiện đúng trách nhiệm, quyền hạn của mình vì căn cứ Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 quy định về hòa giải tranh chấp đất đai thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp có trách nhiệm tổ chức hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

Do đó, khi hết thời hạn 45 ngày kể từ ngày Ủy ban nhân dân xã nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai của gia đình bạn mà vẫn không giải quyết cho gia đình bạn thì bạn có thể khởi kiện tại Tòa án hoặc yêu cầu cơ quan hành chính nhà nước Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh để giải quyết theo quy định tại Điều 203 Luật đất đai 2013 như sau:

"Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành."

Trên đây là một số tư vấn pháp luật về vấn đề của bạn, hi vọng sẽ giúp được bạn trong vấn đề của mình. Mọi chi tiết thắc mắc xin liên hệ: 1900.1975

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê