1. Giới thiệu tác giả
Cuốn sách Chủ quyền biển đảo Việt Nam xưa và nay do tác giả Lê Thái Dũng biên soạn.
2. Giới thiệu hình ảnh sách

Chủ quyền biển đảo Việt Nam xưa và nay
Tác giả: Lê Thái Dũng
Nhà xuất bản Hồng Đức
3. Tổng quan nội dung sách
Tự bao đời nay biển đảo đã gắn bó mật thiết với người Việt, đặc biệt trong thời đại ngày nay biển đảo là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ đất nước, chủ quyền quốc gia. Là một quốc gia ven biển, Việt Nam có bờ biển dài, kinh tế biển và các ngành liên quan đến biển đóng góp không nhỏ vào nền kinh tế đất nước cũng như góp phần quan trọng trong giữ vững an ninh quốc phòng, ổn định chính trị, hòa bình, độc lập của Tổ quốc.
Quyển sách “Chủ quyền biển đảo Việt Nam xưa và nay” của tác giả Lê Thái Dũng tập hợp nhiều bài viết khác nhau, được trình bày theo lối lịch sử sắp xếp logic theo từng giai đoạn. Từ thời Tiền Lê và việc xác lập biên giới trên biển cho đến bây giờ. Với độ dày 215 trang, quyển sách chuyển tải đến bạn đọc 23 bài viết về tiến trình phát hiện, xác lập chủ quyền biển đảo của nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử và các nội dung có liên quan. Một số bài viết tiêu biểu như:
- Đôi nét về thủy quân thời Tiền Lê và việc xác lập biên giới trên biển;
- Chuyện vua Lý Anh Tông hai lần đi tuần biển Đông;
- Lê Thánh Tông với việc xây dựng thủy quân hùng mạnh;
- Các triều đại Việt Nam với hoạt động cứu hộ, cứu nạn trên biển Đông;
- Nhà nước phong kiến Việt Nam thực thi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như thế nào?
- Thủy quân nước Việt hai lần đánh bại chiến thuyền Tây phương; Hai tuyên bố quan trọng của Việt Nam về vấn đề biển;
- Chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa, trường Sa;
- Quá trình hình thành và nội dung tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC);
- Những tòa án quốc tế nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp biển đảo?
- Giá trị pháp lý của các phán quyết về tranh chấp biển đảo;
- "Đường lưỡi bò” và tính pháp lý theo luật quốc tế;
- Biển đảo - Một đề tài cần mở rộng trên tem bưu chính Việt Nam.
.............
Qua những câu chuyện lịch sử về quản lý, khai thác và bảo vệ biển đảo, sự kiện đối ngoại và các dữ kiện pháp lý gắn với biển đảo được trình bày, quyển sách giúp bạn đọc thấy được hình ảnh người Việt vượt qua bao bão tố phong ba vẫn kiên cường bám trụ, vững vàng tay chèo, tay lái để cắm ngọn cờ chủ quyền trên các hải đảo xa xôi, quản lý bảo vệ vùng biển thiêng liêng của Tổ quốc.
Mặc dù chưa thật đầy đủ, nhưng nội dung sách đề cập khá rộng và đa dạng, có nhiều thông tin góp thêm bằng chứng khẳng định chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối của Việt Nam tại các vùng biển đảo đã tuyên bố chủ quyền, đồng thời phủ định mọi luận điệu sai trái của các quốc gia có tranh chấp biển đảo với Việt Nam. Qua đó cho thấy việc xác lập chủ quyền biển đảo của nước ta không chỉ mang yếu tố lịch sử mà còn phù hợp với luật pháp quốc tế.
4. Đánh giá bạn đọc
Quyển sách “Chủ quyền biển đảo Việt Nam xưa và nay” do Lê Thái Dũng biên soạn, Nxb. Hồng Đức xuất bản năm 2020 sẽ giúp bạn đọc hiểu hơn quá trình cha ông ta xác lập, quản lý và bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.
Sách là một tài liệu quý khi đã khái quát và đưa ra được một số bằng chứng pháp lý từ thời phong kiến Việt Nam đã thực thi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tác giả còn miêu tả rất cụ thể lực lượng thuỷ quân của Việt Nam trải qua từng thời kỳ, có những thăng tầm biến đổi lúc thịnh, lúc suy nhưng vẫn đảm bảo thực thi chủ quyền của mình. Đến thế kỉ XX Việt Nam đã chủ động tham gia vào các công ước quốc tế về luật biển 1982 và các quy tắc ứng xử ở biển đông DOC. Tham gia tìm hiểu các thủ tục tố tụng tại các toà án quốc tế về tranh chấp biển. Tác giả Lê Thái Dũng cũng đã chỉ ra những điều sai trái về đường lưỡi bò của Trung Quốc theo tính pháp lý của luật pháp quốc tế. Để người đọc dần hiểu ra rằng cơ sở pháp lý của Việt Nam ở hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa là vô cùng vững chắc.
Sách “Chủ quyền biển đảo Việt Nam xưa và nay” chứa đựng nhiều kiến thức bổ ích và quý bảo về biển đảo Việt Nam, được tác giả viết rất dễ hiểu không nhàm chán, khô khan, ngược lại rất hay và giàu tính văn học nghệ thuật. Qua đó cho thấy việc xác lập chủ quyền biển đảo của nước ta không chỉ mang yếu tố lịch sử mà còn phù hợp với pháp luật quốc tế. Cho mỗi người dân Việt Nam hiểu thêm về lịch sử và tính thời sự liên quan đến vấn đề chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, và luôn khắc sâu hơn sự cảm phục, lòng tri ân ngưỡng mộ đến các bậc tiền nhân, đến những người đã hiến dâng mồ côi, công sức, máu xương để giữ gìn chủ quyền biển đảo thiêng liêng cho thế hệ hôm nay và muôn đời sau.
5. Kết luận
Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách "Chủ quyền biển đảo Việt Nam xưa và nay".
Luật Minh Khuê chia sẻ tư liệu lịch sử về việc vua Lê Thánh Tông với việc xây dựng thủy quân hùng mạnh và việc đưa quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa vào bản đồ Đại Việt để bạn đọc tham khảo:
Sau khi quét sạch quân Minh khỏi bờ cõi, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, triều Lê (1427-1789) được dựng lên. Từ đây, để trấn áp nội loạn, bảo vệ và mở rộng lãnh thổ, vua Lê rất chú trọng cải tổ quân đội. Thủy quân trở thành một binh chủng riêng, độc lập với bộ binh, tượng binh và kỵ binh.Theo đó, trang trí vẽ thuyền trở thành nghi lễ quốc gia. Thủy quân chia thành nhiều phiên hiệu rạch ròi, như: Thiện Hải thuyền của vua chúa khi xuất trận; còn Đấu thuyền, Lâu thuyền Tẩu Kha thuyền, Khai lãng thuyền, Hải Cốt thuyền...có hình dáng, cấu trúc, chạm khắc, màu sắc, vương huy, vương hiệu khác nhau…Ngay trong năm đầu tiên ở ngôi vua, Lê Thái Tổ đã ban hành quy chế cụ thể cho lực lượng thủy quân cũng như vũ khí cho binh lính. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Vào ngày mồng 10 tháng 8 năm Mậu Thân (1428), vua định các khí vật như cờ xí, nghi trượng cho các quân, chiến khí và thuyền ghe: trung đội cờ vàng, thượng đội cờ đỏ, hạ đội cờ trắng. Mỗi vệ một lá cờ lớn của chủ tướng. Mỗi quân một lá cờ hạng trung, 10 lá cờ đội và 40 lá cờ nhỏ. Thuyền chiến có hỏa công 10 chiếc, thuyền nhỏ đi tuần thám hai chiếc… Ngoài trang phục chung giống như các lực lượng khác, thủy quân thời Lê sơ đội nón thủy ma và nón sơn đỏ để có sự phân biệt”.Từ tiền đề trên, sau đó không bao lâu, nhà Lê đã có một lực lượng thủy quân khá mạnh. Đến năm 1435, Lê Thái Tông sau khi xem bộ binh diễn tập, đã xem thủy quân diễn tập ở sông Hồng. Tiếp đó, vào năm 1438, Lê Thái Tông lại sai chiến thuyền của năm đạo quân diễn tập thủy chiến. Rồi khi thấy Chiêm thành hay cho quân xâm phạm biên giới, năm 1446, vua Lê Nhân Tông sai Lê Thụ, Lê Khả đem thủy quân đánh Chiêm Thành, quân Đại Việt đánh chiếm cửa biển Thi Nại, rồi tiến lên đánh chiếm thành Cha Bàn, bắt được vua Chiêm Bí Cái...Đến thời Lê Thánh Tông, thủy quân của Đại Việt ngày càng hùng mạnh và lập được nhiều chiến công. Nhà Lê có nhiều loại chiến thuyền lớn nhỏ, có chiến thuyền được trang bị bằng hỏa khí. Năm 1964, vua ban hành phép duyệt trận đồ thủy chiến của thủy binh như: Trung hư, Thường sơn xà, Mãn thiên tinh, Nhạn hàng, Liên châu, Ngư đội, Tam tài hành, Thất môn, Yến nguyệt... Mỗi loại trận đồ có hàng trăm thuyền chiến tham gia tập trận. Nhà vua còn định ra quân lệnh về thủy trận gồm 31 điều - đây là "Điều lệ thủy binh" bằng văn bản đầu tiên của quân thủy Việt Nam.
Cũng nhờ sự quan tâm đến xây dựng quân đội, trong đó có thủy binh nên thời Lê Thánh Tông, đội chiến thuyền lớn nhất lịch nước ta đã được thành lập. Vào năm Kỷ Sửu (1469), Lê Thánh Tông đã huy động một phần trong số đó đi chinh phạt Chiêm Thành. Theo sử sách, ngoài lực lượng bộ binh thì có tới 25 vạn thủy quân và 5.000 chiến thuyền do nhà vua đích thân chỉ huy trong cuộc Nam chinh đó.
Như vậy, với quân bộ, quân thủy dưới thời vua Lê Thánh Tông dần được hoàn thiện về tổ chức; thủy quân được chia làm 4 đội: Hải hồng quân, Hải mã quân, Hải kình quân và Hải điểu quân; được trang bị hàng vạn chiến thuyền có ống phun lửa (còn gọi là hỏa đồng), bố trí ở tất cả các cửa sông, cửa cửa biển xung yếu, góp phần quan trọng bảo vệ giang sơn, đất nước.Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thời xưa được cha ông ta thường coi là một dải đảo dài nên gọi chung bằng các tên khác nhau như Bãi Cát Vàng, Cồn Vàng, Vạn lý Hoàng Sa, Vạn lý Trường Sa, Đại Trường SaTư liệu từ triều nhà Hồ trở về trước đã bị mất mát, phá hoại rất nhiều vào thời giặc Minh xâm lược nước ta nhưng việc Lê Thánh Tông cho lập bản đồ toàn quốc gọi chung là Hồng Đức bản đồ vào năm Canh Tuất (1490), trong đó có cả Hoàng Sa và Trường Sa, điều này cho thấy trước đó hai quần đảo này đã thuộc chủ quyền Đại Việt và nhà Hậu Lê sau khi chiến thắng quân Minh, đã hết sức quan tâm tới việc xác lập biên giới quốc gia, khẳng định chủ quyền lãnh thổ trong đó có vùng biển, đảo.
Căn cứ vào Hồng Đức bản đồ, nho sinh Đỗ Bá (tự Công Đạo) đã soạn ra bộ sách Toàn tập Thiên nam tứ chí lộ đồ thư (1630 – 1653), ở quyển 1 có thể hiện địa mạo phủ Quảng Ngãi, phần chú thích trên bản đồ có nói tới Bãi Cát Vàng tức quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngày nay: “Giữa biển có một dải cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm, dựng đứng giữa biển” và có một bản đồ vẽ nhóm đảo thuộc Quảng Ngãi, phủ Thăng Hoa với chú thích chữ Nôm là “Bãi Cát Vàng”.
Toàn tập Thiên nam tứ chí lộ đồ thư theo lệnh của Chúa Trịnh những năm Chính Hòa (1689-1705) là văn kiện chính thức của Nhà nước phong kiến bấy giờ. "Bãi Cát Vàng” được ghi chú trong bản đồ phản ánh việc thực thi chủ quyền của Nhà nước phong kiến Việt Nam trên biển Đông trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa - muộn nhất là vào thế kỷ thứ XV.
Cũng theo Thiên nam lộ đồ, bản đồ xứ Quảng Nam đời Lê, được vẽ lại năm 1741 (bản sao chép của Dumoutier), có “Bãi cát vàng” - tức Hoàng Sa ngày nay.