1. Giới thiệu tác giả

Cuốn sách "Học tập đạo đức Bác Hồ" do tác giả Vũ Khiêu biên soạn.

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách "Học tập đạo đức Bác Hồ" do tác giả Vũ Khiêu biên soạn

Học tập đạo đức Bác Hồ

Tác giả: Vũ Khiêu biên soạn

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật

3. Tổng quan nội dung sách

Đạo đức hiểu theo nghĩa chung nhất là một hình thái ý thức xã hội, bao gồm những nguyên tắc, chuẩn mực, định hướng được xã hội thừa nhận, có tác dụng chi phối, điều chỉnh hành vi của con người trong quan hệ giữa mình với người khác. Đạo đức có vai trò quan trọng trong xã hội, là nền tảng tinh thần của xã hội, góp phần giữ vững ổn định chính trị và thúc đẩy sự phát triển về mọi mặt của đất nước hướng tới mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của sự nghiệp cách mạng Việt Nam nhằm giải phóng dân tộc và đổi mới đất nước Việt Nam. Người để lại cho chúng ta một di sản tinh thần to lớn gồm những giá trị nhân văn cao cả, đặc biệt là tư tưởng đạo đức cách mạng.

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một hệ thống các quan điểm cơ bản và toàn diện về đạo đức của nhân dân ta trong thời đại ngày nay. Người nhấn mạnh: "Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang" 1 và "Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân" 2 . Người đòi hỏi đạo đức cơ bản của con người Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ là: Trung với nước, hiếu với dân; nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Trong sự lãnh đạo của Người, toàn Đảng cùng toàn dân đã đem hết tâm huyết để thực hiện mục tiêu cách mạng. Tuy nhiên, vẫn còn một số không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, tác động đến sự phát triển bền vững của xã hội và gây bức xúc trong dư luận xã hội, khiến cho nhân dân lo lắng, bất bình và ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước.

Trước tình hình nói trên và trong xã hội ta ngày nay, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh có ý nghĩa hết sức quan trọng. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh luôn là nền tảng tinh thần xã hội, là động lực và nguồn sức mạnh to lớn để nhân dâm ta phát huy nội lực, vượt qua mọi thử thách để tiến lên. Đặc biệt, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là một biện pháp quan trọng để mỗi cán bộ, đảng viên phát huy vinh dự và trách nhiệm của mình, khắc phục mọi tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống, củng cố và giữ vững niềm tin của nhân dân về sự lãnh đạo của Đảng.

Với ý nghĩa và tầm quan trọng của việc học tập đạo đức Bác Hồ, ngày 14-5-2011, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 03-CT/TW về việc tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tinh thần chỉ thị nói trên là nội dung yêu cầu mà mọi tổ chức và hoạt động của Đảng cần phải nắm vững, quán triệt và thực hiện tốt và là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá cơ sở đảng và đảng viên.

Thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14-5-2011 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, nhằm góp phần nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và nhân dân về giá trị to lớn của tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, tạo ra những chuyển biến trong ý thức tu dưỡng, rèn luyện và hành động theo tấm gương đạo đức của Người góp phần đẩy lùi sự suy thoái về đạo đức chính trị, lối sống và các tệ nạn xã hội; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng; giáo dục và hướng con người tới cái chân, thiện mỹ, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách Học tập đạo đức Bác Hồ của Giáo sư, Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới Vũ Khiêu.

Nội dung cuốn sách gồm ba chương: 

Chương I. Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Chương II. Nội dung cơ bản của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.

Chương III.  Những vấn đề học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong sự nghiệp của nhân dân ta ngày nay.

4. Đánh giá bạn đọc

Cuốn sách được tác giả trình bày ngắn gọn, súc tích, bố cực hợp lý, văn phong mạch lạc trong sáng, giản dị mà sâu sắc, đan xen những mẩu chuyện hết sức chân thực, sinh động, đem lại cho bạn đọc những thu hoạch bổ ích, những cảm nhận mới, những hiểu biết sâu hơn về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cuốn sách "Học tập đạo đức Bác Hồ" của tác giả Vũ Khiêu là tài liệu quý và hữu ích để tuyên truyền và phổ biến phong trào học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong nhân dân ở mọi thời đại.

5. Kết luận

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Học tập đạo đức Bác Hồ của tác giả Vũ Khiêu".

Dưới đây là trích dẫn nội dung tác giả đã trình bày trong cuốn sách về lời chỉ dạy của Người "xác định một lý tưởng duy nhất cho cuộc sống" để bạn đọc tham khảo:

1. Xác định một lý tưởng duy nhất cho cuộc sống

Khi Hồ Chí Minh nói: "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" cũng chính là Người đang nêu lên một lý tưởng đã từng chi phối ý nghĩ và việc làm trong suốt cuộc đời của Người. Đây không chỉ là một lời kêu gọi chiến đấu trước mắt mà chính là yêu cầu phát sinh ra bởi những quan hệ xã hội của biết bao nhiêu thời kỳ lịch sử. Đây là một lẽ sống vững chắc, hiện thực, cao cả chi phối toàn bộ ý nghĩ và việc làm của nhân dân. Lý tưởng ấy phản ánh khát vọng lâu đời của dân tộc ta trong hoàn cảnh bị áp bức, bóc lột. Lý tưởng ấy nói lên ý chí sắt đá của nhân dân ta trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Lý tưởng ấy hướng về một tương lai tràn đầy hạnh phúc của cả dân tộc và loài người. Lý tưởng ấy chính là mục đích cuộc sống của Hồ Chí Minh, xác định mọi ý nghĩ và việc làm của mình trong suốt cuộc đời là đấu tranh thực hiện cho được mục đích ấy: "Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân" 6 . Mục đích đó gắn liền với Người trong mỗi lời nói, mỗi việc làm, mỗi giờ, mỗi phút. Đạo đức và lối sống của Người xưa nay đều gắn liền với một lý tưởng. Lý tưởng ấy đem lại cho mọi ý nghĩ và hành vi một nội dung sâu sắc, một sức mạnh tinh thần thôi thúc từ bên trong. Nó khiến cơ các quy tắc đạo đức và lối sống trong sản xuất trong chiến đấu và trong quan hệ hằng ngày được ổn định và ràng buộc về nhau trong một hệ thống.

Chúng ta muốn sống một cuộc sống cao đẹp, sử dụng một cách có ý nghĩa nhất những năm tháng của chúng ta trên trái đất này nên chúng ta cần xác định một lý tưởng cao đẹp nhất.

Lý tưởng ở Hồ Chí Minh gắn liền với hiện thực khách quan và được hình thành trên cơ sở nhận thức đúng đắn quy luận phát triển của lịch sử và triển vọng của ngày mai. Lý tưởng đạo đức ấy là sự chuyển biến cái tất yếu khách quan của lịch sử thành cái tất yếu chủ quan của ý nghĩ và hành động.

Khi Hồ Chí Minh nói: "Trên đời nghìn vạn điều cay đắng, cay đắng chi bằng mất tự do?" 7 thì Người đã thông cảm sâu sắc với điều cay đắng từ bao đời của dân tộc. Dân tộc ta nhất định phải xóa bỏ điều cay đắng ấy để được tự do trong một Tổ quốc độc lập.

Độc lập, tự do là khát vọng lâu đời của dân tộc ta. Suốt mấy ngàn năm, nhân dân ta đã chiến đấu anh hùng để đánh đuổi ngoại xâm, lật đổ những triều đại phong kiến thối nát để giành độc lập cho Tổ quốc, đem lại đời sống ấm no, hạnh phúc cho mọi người. Mục tiêu phấn đấu ấy là nhu cầu cao nhất của nhân dân ta. Nó vừa là lý tưởng chính trị, vừa là lý tưởng đạo đức. Đối với nhân dân ta, con người có đạo đức phải là con người không thể cam tâm sống trong cảnh đất nước bị giày xéo, nhân dân bị nô dịch. Con người ấy phải sống với tình cảm tất yết là yêu nước, thương dân, là đấu tranh cho sự phồn vinh của Tổ quốc, là bảo vệ cho nhân phẩm và tài năng, cho tình yêu, hạnh phúc của mỗi người.

Dân tộc ta trong buổi bình minh của mình đã sống với tình cảm nói trên, đã đem hết tài sức cùng nhau đoàn kết yết thương, xây dựng giang sơn gấm vóc của mình và làm nên những thành tựu rực rỡ của văn hóa Hùng Vương. Nhưng rủi ro của lịch sử đã đây dân tộc ta vào cảnh mất nước và gần một ngàn năm sống trong đau khổ dưới sự cai trị của nước ngoài.

Kể không hết những cảnh nhân dân bị xiềng xích và chém giết. Bao nhiêu làng mạc nhà cửa đã bị phá hủy tan hoang. Bao yêu của cải làm ra bằng mồ hôi, xương máu, nước mắt đã bị chúng tước đoạt. Quân xâm lược còn tìm đủ mọi cách thủ tiêu những thành tựu văn hóa của nhân dân ta, ép buộc nhân dân ta tuân theo lối sông của chúng, từ những lễ nghi, phong tục tập quán, cho đến cả cách ăn ở, suy nghĩ và hoạt động tinh thần. Suốt một ngàn năm chiến đấu, nhân dân ta đã liên tục chống lại sự nô dịch và đồng hóa ấy, cuối cùng đã quét sạch giặc ngoại xâm ra khỏi đất nước.

Với khí thế quật cường của mình, nhân dân ta suốt từ thời Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần đã không ngừng đổ máu để đánh tan quân xâm lược và bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ. Nhưng cuối cùng thì thành quả của độc lập lại bị giai cấp phong kiến trong nước độc chiếm, còn tự do thực sự cho mỗi người thì chưa bao giờ đạt tới.

Cả một hệ thống quan liêu nặng nề, từ triều đình đến thôn xã bóc lột nhân dân một cách tàn bạo. Sống trong nỗi lo lắng thường xuyên của "cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan", nhân dân nhiều lúc mất ruộng, mất nhà, phải bán con, bỏ vợ, phiêu bạt nơi này, nơi khác.

Không thể mãi cam chịu, nhân dân ta khắp nơi đã liên tục nổi dậy. Những cuộc khởi nghĩa ấy cứ bị dập tắt lại bùng lên đã bao lần làm thay đổi các triều đại, lật đổ các vua, chúa tàn bạo, trừng trị những quan lại gian tham.

Vào thế kỷ XIX, sự bất lực của vua quan nhà Nguyễn đã đầy nước ta vào sự thống trị của đế quốc Pháp, chồng chất lên nhân dân ta cả hai tầng áp bức của thực dân và của nhà nước phong kiến.

Hồ Chí Minh ngay từ năm 1920 đã nói lên hoàn cảnh mất tự do của nhân dân ta dưới chế độ thực dân Pháp: "Chúng tôi không những bị áp bức và bóc lột một cách nhục nhã, mà còn bị hành hạ và đầu độc một cách thê thảm... Chúng tôi không có quyền tự do báo chí và tự do ngôn luận, ngay cả quyền tự do hội họp và lập hội cũng không có. Chúng tôi không có quyền cư trú và du lịch ra nước ngoài; chúng tôi phải sống trong cảnh ngu dốt tối tăm vì chúng tôi không có quyền tự do học tập" 8 .

Không có tự do thì không còn hạnh phúc nữa. Ai chả muốn sống có hạnh phúc nhưng làm sao an ủi được với cảnh xơ xác tiêu điều của đất nước, trước những đói rét, tủi nhục, đau thương của đồng bào.

Độc lập và tự do, khát vọng lâu đời của dân tộc, đã trở thành một nhu cầu cần thiết hằng ngày. Lý tưởng cao đẹp này của nhân dân đã mang tính hiện thực sâu sắc nhất.

Trong hoàn cảnh tối tăm của "phận nghèo, nước mất, thân nô lệ" ấy (Tố Hữu), Hồ Chí Minh đã tạo ra bước ngoặt lớn nhất trong lịch sử Việt Nam. Từ trên mảnh đất nghèo khổ của quê hương, Người đã từng bước chứng kiến những trận đánh Pháp của nghĩa binh và cái chết bất khuất của những người yêu nước. Bộ mặt tàn bạo của quân thù, những thất bại của cha anh, cảnh điêu linh, khổ cực của đồng bào đã ngày đêm thôi thúc Người suy nghĩ và hành động. Độc lập và dự do từ đó càng trở thành ý chí mãnh liệt quán triệt và xuyên suốt cuộc đời của Người.

Năm 1923, Hồ Chí Minh viết về nhu cầu độc lập, tự do ấy trong thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp: "Chúng ta cùng chịu chung một nỗi đau khổ: sự bạo ngược của chế độ thực dân. Chúng ta đấu tranh vì một lý tưởng chung: giải phóng đồng bào chúng ta và giành độc lập cho Tổ quốc chúng ta" 9 .

Năm 1946. Người lại nhấn mạnh mục đích cuộc sống của Người với các nhà báo:  "Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành" 10 .

Năm 1969, trong Di chúc, Người lại viết: Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, và góp phần xứng đáng và sự nghiệp cách mạng thế giới" 11 .

Qua những lời phát biểu trên, Hồ Chí Minh nêu lên cho bản thân mình và cho toàn thể nhân dân ta lý tưởng đạo đức là suốt đời đấu tranh cho độc lập của Tổ quốc, tự do của nhân dân, phồn vinh và hạnh phúc của dân tộc và nhân loại. Xã hội nào, con người nào không nắm vững lý tưởng ấy thì khó tránh khỏi sự suy thoái về đạo đức và thất bại trong cuộc sống.