1. Giới thiệu tác giả
Sách "Sự hạn chế quyền lực nhà nước" do GS.TS. Nguyễn Đăng Dung biên soạn.
2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sự hạn chế quyền lực nhà nước
Tác giả: GS.TS. Nguyễn Đăng Dung biên soạn
Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội
3. Tổng quan nội dung sách
Sự hạn chế quyền lực nhà nước lần đầu tiên được công bố năm 2005 trong bối cảnh có rất nhiều ý kiến bàn luận về vấn đề quyền lực nhà nước sau công cuộc Đổi mới được phát động. Cho đến nay, với việc thừa nhận sự cần thiết phải có sự kiểm soát quyền lực nhà nước của Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ mười một, năm 2011 và nhất là việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992 thành Hiến pháp mới, cùng với sự xuất hiện thuật ngữ Chủ nghĩa Hiến pháp, hay còn được gọi là Chủ nghĩa hợp hiến, bên cạnh việc cần phải đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền và bảo đảm quyền con người, vấn đề hiểu về sự giới hạn quyền lực nhà nước dưới nhiều góc độ khác nhau cả ở tầm lý thuyết cả ở tầm thực tiễn lại càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.
Nếu không giới hạn quyền lực nhà nước sẽ dẫn đến tình trạng vi phạm nhân quyền, quyền cơ bản của con người. Quyền con người là khả năng thực hiện các đặc quyền tự nhiên và khách quan của con người, với tư cách là con người và với tư cách là thành viên xã hội, được đảm bảo bằng hệ thống chính sách bạo lực quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế về các giá trị con người trong các quan hệ vật chất, văn hóa, tinh thần, các nhu cầu tự do và phát triển Khi quyền lực nhà nước bị lạm dụng có nghĩa là chủ thể sở hữu quyền lực ấy sẽ sử dụng nhà nước phục vụ cho lợi ích của cá nhân. Một khi lợi ích cá nhân được đặt lên hàng đầu thì tất yếu sẽ dẫn đến xâm phạm lợi ích của người khác. Lúc ấy, sự hạn chế quyền lực nhà nước là một vấn đề cấp thiết cần đặt lên hàng đầu trong bối cảnh xã hội phát triển và quyền con người được đề cao, phát triển, đảm bảo.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, nhằm cung cấp tới bạn đọc nguồn tư liệu nghiên cứu chuyên sâu về giới hạn quyền lực nhà nước, GS.TS. Nguyễn Đăng Dung đã biên soạn cuốn sách "Sự giới hạn quyền lực nhà nước".
Cuốn sách "Sự hạn chế quyền lực nhà nước" được biên soạn với cấu trúc chương mục như sau:
Chương I: Sự cần thiết phải giới hạn quyền lực nhà nước
1. Nhà nước là một thiết chế cần thiết
2. Nhà nước là con thủy quái
3. Một khi đã cần có đến nhà nước, thì cần phải có giới hạn quyền lực của nó
Chương II: Hiến pháp – Phương thức quan trọng nhất của hạn chế quyền lực nhà nước
1. Hạn chế quyền lực nhà nước - lý do ra đời của hiến pháp
2. Các loại hình hiến pháp
3. Hiến pháp - một văn bản có hiệu lực pháp lý tối cao có chức năng giới hạn quyền lực nhà nước
Chương III: Nhà nước pháp quyền và chủ nghĩa Hiến pháp – Sự thể hiện tập trung lý thuyết về giới hạn quyền lực nhà nước
1. Giới hạn quyền lực nhà nước - lý do hình thành lý thuyết nhà nước pháp quyền
2. Chủ nghĩa hiến pháp - một bước tiến tiếp theo của lý thuyết giới hạn quyền lực nhà nước
Chương IV: Bảo đảm nhân quyền không bị vi phạm – Một nội dung của việc hạn chế quyền lực nhà nước
1. Quyền con người được quy định và bảo đảm trong hiến pháp - nội dung hạn chế quyền lực nhà nước
2. Hạn chế quyền lực nhà nước ở Việt Nam bằng việc quy định đảm bảo quyền con người trong các Hiến pháp Việt Nam
3. Quyền con người và quyền công dân trong hiến pháp mới của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Chương V: Các chức danh quan trọng của nhà nước phải được bầu cử và với một nhiệm kỳ nhất định – Một hình thức hạn chế quyền lực nhà nước
1. Bầu cử - một phương thức giới hạn quyền lực nhà nước
2. Các hình thức bầu cử
3. Sự hạn chế quyền lực của nhà nước bằng cách bãi nhiệm đại biểu, bỏ phiếu tín nhiệm các chức danh khác của các cơ quan nhà nước
Chương VI: Quyền lực nhà nước giới hạn bằng việc phân chia/phân công, phân nhiệm, tự kiểm tra bên trong (Sự giới hạn quyền lực nhà nước từ bên trong)
1. Giới hạn quyền lực nhà nước - lý do của sự phân quyền và kìm chế đối trọng quyền lực
2. Nội dung của sự phân quyền, kìm chế đối trọng quyền lực nhà nước
3. Phân công, phân nhiệm quyền lực và sự tự kiểm tra quyền lực từ bên trong - giới hạn quyền lực nhà nước bên trong ở Việt Nam
4. Phân quyền theo chiều dọc: quyền lực nhà nước được giới hạn bằng việc phân quyền cho địa phương và việc công nhận chế độ tự trị của chính quyền địa phương
Chương VII: Chính phủ phải chịu trách nhiệm – Tiêu điểm của hạn chế quyền lực nhà nước từ bên trong
1. Ý nghĩa và vai trò của vấn đề chính phủ phải chịu trách nhiệm
2. Phân quyền mềm dẻo, chính phủ phải chịu trách nhiệm trước quốc hội - một hình thức hạn chế quyền lực nhà nước quan trọng của các nhà nước được tổ chức theo mô hình chính thể đại nghị kể cả quân chủ lẫn cộng hòa
3. Phân quyền cứng rắn, chỉnh phủ phải chịu trách nhiệm trực tiếp trước nhân dân - một hình thức hạn chế quyền lực nhà nước khác của các nhà nước tổ chức theo chế độ tổng thống
4. Phân quyền hỗn hợp, không những chính phủ - hành pháp phải chịu trách nhiệm trước quốc hội mà còn cả Tổng thống - người đứng đầu nhà nước - một hình thức khác của sự hạn chế quyền lực nhà nước
5. Cho dù nhà nước có tổ chức theo kiểu này hay kiểu kia thì hành pháp - chính phủ vẫn phải là trung tâm của bộ máy nhà nước, và chính hành pháp - Chính phủ phải chịu trách nhiệm chính về sự phát triển hay tồn tại của một quốc gia
6. Chính phủ Việt Nam phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội Việt Nam
Chương VIII: Những phương thức hạn chế quyền lực nhà nước từ bên ngoài
1. Hạn chế quyền nhà nước bằng hoạt động tư do báo chí
2. Sự hạn chế quyền lực nhà nước bằng chính sự công khai và minh bạch của chính quyền
3. Hạn chế quyền lực nhà nước bằng cách bỏ phiếu trưng cầu
4. Tòa án - một phần của nhà nước được dùng tách riêng ra một cách độc lập xét xử sự đúng sai của chính các cơ quan các cá nhân đảm trách các công việc của nhà nước - cửa ải cuối cùng của sự hạn chế nhà nước
4. Đánh giá bạn đọc
5. Kết luận
Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Sự hạn chế quyền lực nhà nước".
Luật Minh Khuê trích dẫn dưới đây nội dung về các loại hình hiến pháp tác giả trình bày trong cuốn sách để bạn đọc tham khảo:
Tính đến nay trên thế giới có khoảng hơn 100 năm mươi nước có dân Pháp, theo các nguyên tắc khác nhau, những pháp có thể chia thành nhiều loại. Theo hình thức thì anh Pháp được phân thành hai loại; hiến pháp thành văn và không thành văn.Tuyệt đại đa số hiến pháp của các nước trên thế giới là hiến pháp thành văn tức là các quy định hiến pháp được viết thành văn bản nhất định, thường là một văn bản hết sức ngắn gọn dễ đọc, và dễ hiểu, có thể đút vào túi được và có thể trong nhiều trường hợp hiến pháp bao gồm nhiều văn bản. Nhưng cho dù một hay nhiều văn bản thì nó nhất thiết phải được nhà nước tuyên bố, và ghi nhận là đạo luật cơ bản của nhà nước.Chính việc quy định là đạo luật cơ bản làm cho diện khác có hiệu lực pháp lý tối cao, bộ các cơ quan nhà nước và các quan chức từ thấp nhất cho đến cao nhất của nhà nước không được vi phạm. Chính đây là giới hạn quan trọng bậc nhất của quyền lực nhà nước. Hiến pháp ngăn cản sự tùy tiện của các cơ quan và quan chức nhà nước, nhằm mục đích đảm bảo nhân quyền, cũng như giữ gìn xã hội trong trật tự, an toàn và phát triển.Hiến pháp không thành văn là tổng thể các văn bản pháp luật, các quy phạm pháp luật được hình thành theo tập tục truyền thống, các án lệ của tòa án tối cao có liên quan tới việc tổ chức quyền lực nhà nước, nhưng không được nhà nước tuyên bố hoặc ghi nhận là luật cơ bản của nhà nước. Hiện nay chỉ có ba nước trên thế giới có hiến pháp không thành văn. Đó là Anh, New Zealand và Israel, tức là những nước thuộc địa của Anh trước đây. Chính việc quy định các cách thức tổ chức và hoạt động của các cơ quan, bộ phận cấu thành nhà nước đã là một đảm bảo quan trọng cho sự hạn chế quyền lực nhà nước.Căn cứ và thủ tục thông qua, thay đổi hiến pháp một cách khó khăn, tác giả Nguyễn Văn bông còn chia Hiến pháp thành hiến pháp nhu tính và hiến pháp cương tính.Hiến pháp nhu tính là hiến pháp có thể sửa đổi, thay đổi bởi chính cơ quan lập pháp theo thủ tục thông qua các đạo luật bình thường. Nói như thế, có nghĩa là hiến pháp không có tính ưu thế, không có sự phân biệt đẳng cấp giữa hiến pháp và các đạo luật khác, mặc dù đối tượng điều chỉnh của chúng có tầm đặc biệt khác nhau. Chúng ta có thể nói rằng, một quốc gia có hiến pháp nhu tính như Anh Quốc là một ví dụ là một quốc gia không có hiến pháp về mặt hình thức.Hiến pháp cương tính là hiến pháp có những ưu thế đặc biệt để phân biệt giữa quyền lập hiến - quyền nguyên thủy, với quyền lập pháp - quyền được thiết lập từ quyền nguyên thủy.