Mục lục bài viết
1. Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm được quy định như thế nào?
Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm được quy định tại Điều 244 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017, cụ thể như sau:
Điều 244. Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm1. Người nào vi phạm quy định về bảo vệ động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB hoặc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp thuộc một trong các trường họp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:a) Săn bắt, giết, nuôi, nhổt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ;b) Tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trải phép cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự song hoặc sản phẩm của động vật quy định tại điểm a khoản này;c) Tàng trữ, vận chuyến, buôn bán trái phép ngà voi có khối lượng từ 02 kilôgam đến dưới 20 kilôgam; sừng tê giác có khối lượng từ 50 gam đến dưới 01 kilôgam;d) Săn bắt, giết, nuôi, nhổt, vận chuyển, buôn bán trải phép động vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng ngưy cấp, quỷ, hiếm Nhóm IB hoặc Phụ lục I Công ước về buôn bán quổc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp mà không thuộc loài quy định tại điểm a khoản này với sô lượng từ 03 cá thể đến 07 cá thể lóp thú, từ 07 cả thể đến 10 cá thế lớp chim, bò sát hoặc từ 10 cá thể đến 15 cá thể động vật lớp khác;đ) Tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của từ 03 cả the đen 07 cá thế lóp thủ, từ 07 cá thể đến 10 cá thể lớp chim, bò sát hoặc từ 10 cá thể đến 15 cả thể động vật lớp khác quy định tại điểm d khoản này;e) Săn bat, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật hoặc tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép cá thể, bộ phận cơ thế không thế tách rời sự sống hoặc sản phẩm của động vật có so lượng dưới mức quy định tại các điểm c, d và đ khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:a) Số lượng động vật hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sổng của từ 03 cả thể đến 07 cả thể lớp thú, từ 07 cá thể đến 10 cá thể lớp chim, bò sát hoặc từ 10 cá thể đến 15 cá thể động vật lớp khác quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;b) Sổ lượng động vật hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sổng của từ 08 cả thể đến 11 cá thể lớp thú, từ 11 cả thể đến 15 cá thể lớp chim, bò sát hoặc từ 16 cả thể đến 20 cá thế động vật lớp khác quy định tại điểm d khoản 1 Điều này;c) Từ 01 cả thể đến 02 cá thể voi, tê giác hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sổng của từ 01 cá thể đến 02 cả thể voi, tê giác; từ 03 cá thể đến 05 cá thể gấu, hổ hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sấng của từ 03 cả thể đến 05 cá thể gau, hổ;d) Ngà voi có khối lượng từ 20 kilôgam đến dưới 90 kilôgam; sừng tê giác có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 09 kilôgam;đ) Có tổ chức;e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;g) Sử dụng công cụ hoặc phương tiện săn bắt bị cấm;h) Săn bắt trong khu vực bị cẩm hoặc vào thời gian bị cấm;i) Buôn bản, vận chuyển qua biên giới;k) Tái phạm nguy hiểm.3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:a) Số lượng động vật hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sổng của 08 cá thể lớp thú trở lên, 11 cả thể lớp chim, bò sát trở lên hoặc 16 cá thể động vật lớp khác trở lên quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;b) Số lượng động vật hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sông của 12 cá thể lớp thú trở lên, 16 cả thể lóp chim, bò sát trở lên hoặc 21 cá thể động vật lớp khác trở lên quy định tại điểm d khoản 1 Điều này;c) Từ 03 cá thể voi, tê giác trở lên hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sổng của 03 cá thể voi, tê giác trở lên; 06 cá thể gấu, hổ trở lên hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sổng của 06 cả thể gấu, hổ trở lên;d) Ngà voi có khối lượng 90 kilôgam trở lên; sừng tê giác có khối lượng 09 kilôgam trở lên.4. Người phạm tội còn cỏ thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cẩm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.5. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng;b) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, g, h, i và k khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 5.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng;c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Đỉều này, thì bị phạt tiền từ 10.000.000.000 đồng đến 15.000.000.000 đồng hoặc đĩnh chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;d) Phạm tội thuộc trường họp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;đ) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 600.000.000 đồng, cẩm kinh doanh, cẩm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cẩm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162
2. Bình luân
Điều luật gồm 5 khoản. Trong đó, khoản 1 quy định các dấu hiệu pháp lý và khung hình phạt cơ bản của tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm; các khoản 2, 3 quy định các trường hợp phạm tội tăng nặng; khoản 4 quy định khung hình phạt bổ sung đối với người phạm tội và khoản 5 quy định khung hình phạt cho pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự.
2.1 Dấu hiệu chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm được quy định là chủ thể bình thường và theo Điều 12 BLHS là người từ đủ 16 tuổi trở lên vì tội này không thuộc các tội mà tuổi chịu trách nhiệm hình sự có thể từ đủ 14 tuổi trở lên được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 BLHS.
2.2 Dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm
Hành vi khách quan của tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm được quy định có thể là:
Thử nhất, hành vi săn bắt, gỉết, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép
+ Động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ;
+ Động vật thuộc Danh mục thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB hoặc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc te các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp mà không thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ.
Các đối tượng tác động của tội phạm trên được quy định trong danh mục do Chính phủ ban hành.
Thứ hai, hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép
+ Cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống hoặc sản phẩm của loài động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ;
+ Cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của loài động vật thuộc Danh mục thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB hoặc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp mà không thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiểm được ưu tiên bảo vệ; ngà voi; sừng tê giác.
Đe hiểu dạng hành vi khách quan thứ hai trên đây, cần thống nhất một số khái niệm đã được sử dụng là “cá thể”, “bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống” và “sản phẩm của loài động vật”. Thông thường, cá thể được hiểu là từng sinh vật riêng lẻ. Tuy nhiên, khái niệm này trong điều luật cần phải được hiểu là từng động vật riêng lẻ đã chết vì nếu hiểu lă cá thể sống thì không giải thích được sự khác nhau giữa hành vi thứ nhất (điểm a khoản 1) và hành vi thứ hai (điểm b khoản 1) và dẫn đến không biết áp dụng theo hành vi nào cho trường hợp cụ thể. Ví dụ: Trường hợp thu giữ được 01 con rắn hổ chúa trong nhà người dân thì có thể xử lý họ như thế nào, áp dụng điểm nào của khoản 1 để xử lý? Điểm a (hành vi thứ nhất) hay điểm b (hành vi thứ hai)? Theo quan điểm của tác giả, cá thể ở đây có thể phải được hiểu là cá thể động vật đã chết. Khi đó, nếu con rắn hổ chúa còn sống, người phạm tội có thể bị áp dụng điểm a khoản 1, nếu con rắn đó đã chết mà không phải do người tàng trữ nó giết thì áp dụng điểm b khoản 1. Bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống được hiểu là một phần cơ thể của động vật mà khi tách bộ phận đó ra khỏi cơ thể của chúng thì động vật đó sẽ không sống được như da, tim... Đối tượng này khác với các bộ phận như ngà (voi), sừng (tê giác), móng (hổ)... là các bộ phận mà việc tách chúng khỏi cơ thể động vật thì động vật vẫn có thể sổng. Sản phẩm của các loại động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ là bất kỳ sản phẩm nào có nguồn gốc từ các loại động vật này có thể đã được tinh chế, sơ chế như áo da báo gấm hay cao hổ,...
2.3 Dấu hiệu về mức độ nghiêm trọng của hành vi khách quan của tội phạm
Cùng với việc quy định hành vi khách quan của tội phạm như được bình luận trên, điều luật còn quy định mức độ nghiêm trọng của hành vi khách quan tương ứng với từng loại đối tượng bị tác động để hành vi có thể cấu thành tội phạm. Cụ thể:
+ Đối với động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, điều luật xác định tất cả các hành vi trên mà có đối tượng tác động loại này đều cấu thành tội phạm về mặt khách quan.
+ Đối với động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB hoặc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp mà không thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, điều luật đòi hỏi số lượng động vật loại này bị tác động để hành vi cấu thành tội phạm về mặt khách quan. Đó là: 03 cá thể trở lên đối với lớp thú, 07 cá thể trở lên đối với lớp chim, bò sát hoặc từ 10 cá thể trở lên đối với các động vật lớp khác.
+ Đối với ngà voi, hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép cấu thành tội phạm về mặt khách quan khi khối lượng ngà voi là từ 02 kg trở lên.
+ Đối với sừng tê giác, hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép cấu thành tội phạm về mặt khách quan khi khối lượng sừng tê giác là tự 50 gam trở lên.
- Dấu hiệu nhân thân thay thế cho mức độ nghiêm trọng của hành vi khách quan của tội phạm
Cùng với việc quy định trường hợp cấu thành tội phạm khi hành vi khách quan có mức độ nghiêm trọng nhất định như được bình luận trên, điều luật còn quy định trường hợp hành vi cũng cấu thành tội phạm dù chưa có mức độ nghiêm trọng thể hiện ở các mức định lượng được bình luận trên. Đó là trường hợp chủ thể thực hiện hành vi đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án mà chưa được xóa án tích về hành vi này.
2.4 Dấu hiệu lỗi của chủ thể
Lỗi của người phạm tội ở đây là lỗi cố ý. Người phạm tội nhận thức được tính chất của hành vi của mình nhưng vẫn thực hiện.
2.5 Khung hình phạt
Khoản 1 của điều luật quy định khung hình phạt cơ bản cọ mức phạt tiền từ 500 triệu đồng đến 02 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Khoản 2 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ nhất có mức phạt tù từ 05 năm đến 10 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
- Số lượng động vật hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sổng của từ 03 cá thể đến 07 cá thể lớp thú, từ 07 cá thể đến 10 cá thể lớp chim, bò sát hoặc từ 10 cá thể đến 15 cá thể động vật lớp khác quy định tại điểm a khoản 1 Điều này: Đây là trường hợp phạm tội đối vói động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ với số lượng từ 03 cá thể đến 07 cá thể lớp thú, từ 07 cá thể đến 10 cá thể lớp chim, bò sát hoặc từ 10 cá thể đến 15 cá thể động vật lớp khác.
- Sổ lượng động vật hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của từ 08 cá thể đến 11 cá thể lớp thú, từ 11 cả thể đến 15 cá thể lớp chim, bò sát hoặc từ 16 cá thể đến 20 cá thể động vật lớp khác quy định tại điểm d khoản 1 Điều này: Đây là trường hợp phạm tội đối với các loài động vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB hoặc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (không thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ) với số lượng cao hon mức định lượng cơ bản tại điểm d, đ khoản 1, cụ thể, từ 08 cá thể đến 11 cá thể lớp thú, từ 11 cả thể đến 15 cá thể lớp chim, bò sát hoặc từ 16 cá thể đến 20 cá thể động vật lớp khác.
- Từ 01 cá thể đến 02 cá thể voi, tê giác hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sổng của từ 01 cả thể đến 02 cá thể voi, tê giác; từ 03 cả thể đến 05 cá thể gấu, hổ hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sổng của từ 03 cá thể đến 05 cá thể gấu, hổ: Đây là trường hợp phạm tội đối với các loài động vật cần phải được bảo vệ đặc biệt hơn là voi, tê giác, gấu và hổ với số lượng từ 01 đến 02 cá thể voi, tê giác; từ 03 đến 05 cá thể gấu, hổ.
- Ngà voi có khối lượng từ 20 kỉlôgam đến dưới 90 kilôgam; sừng tê giác có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 09 kilôgam: Đây là trường hợp phạm tội (tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép) đối với bộ phận của voi, tê giác với số lượng từ 20 kg đến dưới 90 kg ngà voi; từ 01 kg đến dưới 09 kg sừng tê giác.
- Có tổ chức: Đây là trường hợp đồng phạm mà trong đó có sự câu kết chặt chẽ giữa những người đồng phạm.
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tẻ chức-. Đây là trường hợp phạm tội mà chủ thể là người có chức vụ, quyền hạn và họ đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản để thực hiện hành vị(6i6) phạm tội như trạm trưởng trạm kiểm lâm đã lợi dụng chức vụ của mình để thực hiện hành vi buôn bán tê tê Java hoặc là trường hợp phạm tội mà chủ thể không phải là người có chức vụ, quyền hạn nhưng đã lợi dụng danh nghĩa của cơ quan, tổ chức để thực hiện hành vi phạm tội như nhân viên một công ty được phép khai thác, chế biển lâm sản đã lợi dụng danh nghĩa của công ty để buôn bán trái phép cao hổ.
- Sử dụng công cụ hoặc phương tiện săn bẳt bị cấm: Đây là trường hợp phạm tội mà chủ thể đã “sử dụng các loại vũ khí quân dụng (kể cả đã được cải biến), các loại tên tẩm thuốc độc hoặc dùng chất độc, đào hầm, hố, cắm chông, bẫy kiềng lớn, bẫy cắm chông, bẫy gài lao, bẫy sập, dùng khúc gỗ lớn hoặc răng sắt lớn, dùng đèn soi, gài súng và các công cụ, phương tiện nguy hiểm khác mà cơ quan có thẩm quyền quy định không được phép sử dụng để săn bắt ở địa bàn đó hoặc đối với loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm đó”.
- Săn bắt trong khu vực bị cấm hoặc vào thời gian bị cấm: Đây là trường hợp phạm tội mà chủ thể đã thực hiện hành vi săn bắt vào thời điểm cấm hoặc tại khu vực cấm săn bắt. Săn bắt trong khu vực bị cấm được hiểu là “săn bắt trong khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia hoặc săn bắt trong các khu vực rừng có quy định cấm khác theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”. “Săn bắt vào thời gian bị Cấm là săn bắt động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm vào mùa sinh sản hoặc vào mùa di cư đến của chúng”.
- Buôn bản, vận chuyển qua biên giới'. Đây là trường hợp phạm tội mà chủ thể thực hiện hành vi buôn bán, vận chuyển từ nước ngoài vào lãnh thổ Việt Nam hoặc ngược lại.
- Tái phạm nguy hiểm: Đây là trường họp phạm tội thỏa mãn các dấu hiệu của tái phạm nguy hiểm được quy định tại Điều 53 BLHS.
Khoản 3 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ hai có mức phạt tù từ 10 năm đến 15 năm được áp dụng cho trường họp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
- Sổ lượng động vật hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sổng của 08 cá thể lớp thú trở lên, 11 cả thể lớp chim, bò sát trở lên hoặc 16 cá thể động vật lớp khác trở lên quy định tại điểm a khoản 1 Điều này: Đây là trường hợp phạm tội đối với động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ với số lượng cao hon trường họp được quy định tại khoản 2 (từ 08 cá thể lớp thú trở lên, từ 11 cá thể lớp chim, bò sát trở lên hoặc từ 16 cá thể động vật lớp khác trở lên).
- Sổ lượng động vật hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sổng của 12 cả thể lớp thú trở lên, 16 cá thể lớp chim, bò sát trở lên hoặc 21 cá thể động vật lớp khác trở lên quy định tại điểm d khoản 1 Điều này: Đây là trường họp phạm tội đối với các loài động vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB hoặc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (không thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ) với số lượng lớn hon mức định lượng của trường hợp tăng nặng được quy định tại điểm b khoản 2, cụ thể, từ 12 cá thể lóp thú, 16 cá thể lớp chim, bò sát hoặc từ 21 cá thể động vật lớp khác trở lên.
- Từ 03 cá thể voi, tê giác trở lên hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự song của 03 cả thể voi, tê giác trở lên; 06 cá thể gấu, hổ trở lên hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của 06 cá thể gấu, hổ trở lên: Đây là trường hợp phạm tội đối với các loài động vật cần phải được bảo vệ đặc biệt hon là voi, tê giác, gấu và hổ với số lượng lớn hon trường hợp quy định tại khoản 2, cụ thể, từ 03 cá thể voi, tê giác hoặc từ 06 cá thể gấu, hổ trở lên.
- Ngà voi có khối lượng 90 kilôgam trở lên; sừng tê giác có khối lượng 09 kỉlôgam trở lên: Đây là trường hợp phạm tội (tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép) đối với bộ phận của voi, tê giác với số lượng lớn hơn trường hợp được quy định tại khoản 2, cụ thể, từ 90 kg ngà voi hoặc từ 09 kg sừng tê giác trở lên.
Khoản 4 của điều luật quy định khung hình phạt bổ sung (có thể được áp dụng) cho người phạm tội là: Phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Khoản 5 của điều luật quy định khung hình phạt đối với pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự. Cụ thể:
- Neu hành vi phạm tội thuộc khoản 1 của điều luật thì khung hình phạt cho pháp nhân thương mại có mức phạt tiền từ 01 tỷ đồng đến 05 tỷ đồng.
- Nếu hành vi phạm tội thuộc các điểm a, b, c, d, đ, g, h, i và k khoản 2 của điều luật thì khung hình phạt cho pháp nhân thương mại có mức phạt tiền từ 05 tỷ đồng đến 10 tỷ đồng.
- Nếu hành vi phạm tội thuộc khoản 3 của điều luật thì khung hình phạt cho pháp nhân thương mại có mức phạt tiền từ 10 tỷ đồng đến 15 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động từ 06 tháng đến 03 năm.
- Nếu hành vi phạm tội thuộc trường họp được quy định tại Điều 79 BLHS, thì pháp nhân thương mại bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn: Đây có thể là trường hợp hành vi phạm tội đã gây hậu quả rất lớn (khoản 1 Điều 79 BLHS) hoặc là trường hợp phạm tội thuộc khoản 2 Điều 79.
- Pháp nhân thương mại còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền từ 300 triệu đồng đến 600 triệu đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê