NỘI DUNG TƯ VẤN​

1. Giới thiệu về sáng kiến vịnh Caribê

CBI quy định rõ các nước nằm ở Caribê, trung tâm châu Mỹ và Nam - Bắc châu Mỹ được hưởng hai quyền lợi : Thứ nhất, chương trình CBI dành cho các nước hưởng quyền lợi được bán hàng hóa vào Mỹ miễn thuế (không giới hạn trong hầu hết các trường hợp) trong một phạm vi sản phẩm rộng rãi hơn những sản phẩm có giá trị dưới chế độ ưu đãi phổ cập (GSP) của Mỹ. Thứ hai, GBI quy định các quyền lợi về thuế nhất định để tăng vốn đầu tư trong các nước CBI.

2. Các nước được lựa chọn:

Tổng thống đã chỉ định các nước sau đây là các nước được hưởng lợi ích CBI : Antigoa và Barbuda, Coxta Rica, Aruba, Bahama, Bacbactôtx, Bêlixê, Coxta Rica, Dominica, En Xanvado, Grênada, Goatêmala, Guyan, Haiti, Hondurat, Jamaica, Mông xerat, Angti thuộc Hà Lan, Xanta Cristôphơ, Nêvit, Xantalucia, Xanvixentơ và Grenada, Trinidat, Tôbagô, các đảo hoang của Anh. Panama đã bị loại khỏi sự lựa chọn vào năm 1988 theo Đạo Luật thương mại kiểm soát chất gây mê.

Một Số nước không được chỉ định là nước hưởng lợi CBI. Đó là các nước xã hội chủ nghĩa, các nước đã quốc hữư hóa, sung công, hoặc nói cách khác là tịch thu quyền sở hữu, hoặc nước mà dân Mỹ, hoặc tổ chức Mỹ không được đên bù do việc kiểm soát tài sản riêng ; những nước đã từ chối, đã xóa bỏ mọi hợp đồng đang tồn tại, hoặc các thỏa hiệp kèm theo về mọi bằng sáng chế, nhãn hiệu, quyền sở hữu trí tuệ khác của một công dân Mỹ hoặc công ty mà không đền bù. Ngoài ra, các nước hưởng lợi cần hợp tác với Mỹ trong việc kiểm soát việc bán và phân phối thuốc cấm, dành sự ưu đãi cho một nước đã phát triển. Những nước có tác động bất lợi đến thương mại Mỹ, và chính phủ không cho phép mọi sự bắt chước mà không được phép các vật liệu Mỹ đã giữ bản quyền.

Trong các nước chỉ định được hưởng CBI, Tổng thống nhận được yêu cầu, trong số các yếu tố khác, cần xem xét tới mong muốn của nước được chỉ định, các điều kiện kinh tế của nước đó ; mức độ nước này bảo đảm với Mỹ sẽ tiếp cận thị trường Mỹ một cách công bằng, hợp lý và cung cấp các nguồn hàng hóa cơ bản của nước đó ; mức độ trong đó công nhân tại nước đó có được điều kiên làm việc hợp lý và có quyền tổ chức và mức độ trong đó nước này sẽ đảm bảo hợp lý và hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ nước ngoài, bao gồm bản quyền, nhãn mác, và quyền bản quyền.

Đạo luật thương mại 1988 quy định Tổng thống có thể hủy bỏ, tạm đình chỉ hoặc giới hạn sự ưu đãi CBI đối với bất kỳ nước nào; nếu xác định các nước hưởng lợi không đáp ứng những điều kiện đã ký kết lúc ban đầu. Tổng thống sẽ thông báo trong sổ Liên bang mục đích ông ta thực hiện 30 ngày trước khi thi hành. Trong thời gian đó, Tổng thống quy đinh một thời điểm để bình luận công khai bằng cả 2 hình thức : văn bản và nói chuyện công khai.

Vì chương trình chỉ dành các lợi ích cho các nước vùng vịnh Caribê đã được lựa chọn mà không cho mọi thành viên của GATT, nó sẽ vi phạm nguyên tắc về chế độ tối huệ quốc của GATT. Do đó, Mỹ đã theo đuổi và đã nhận được từ GATT sự từ chối theo điều khoản I để có thể dành ưu đãi chỉ cho các nước CBI.

3. Các sản phẩm được lựa chọn:

Để xác định những lợi ích của chương trình, các sản phẩm của CBI cần phải : (1) có sự tăng trưởng các sản phẩm hoặc hoạt động sản xuất của một nước hưởng lợi, một mặt hàng thương mại mới, những mặt hàng đã được phát triển, được sản xuất hoặc chế tạo ở một nước CBI ; (2) được nhập khẩu trực tiếp vào Mỹ từ một nước hưởng lợi ; (3) tổng giá trị của các nguyên liệu đã sản xuất các nước hưởng lợi không được thấp hơn 35% giá trị đã xác định của mặt hàng. Để tính toán mức 35%, có thể tập hợp những đóng góp của mọi liên hiệp các nước CBI, Puerto Ricô và các đảo hoang được ưu đãi như các nước hưởng lợi vì mục đích đáp ứng yêu cầu 35%. Ngoài ra, các nguyên liệu hoặc các sản phẩm đã sản xuất ở Mỹ đạt tới 15% của giá trị xác định của mặt hàng cũng có thể góp phần để đạt tới con số 35%.

Thông thường sự lắp ráp hoặc đóng gói ở một nước hưởng lợi, sự giảm bớt trong nước hoặc chất khác thì không được xem như đủ số lượng để tạo ra một mặt hàng thương mại mới hoặc mặt hàng thương mại khác.

Giá trực tiếp của quá trình sản xuất được định rõ là giá cho lao động thực sự (gồm phụ cấp ngoài, chi phí đào tạo, kỹ thuật, giám sát kho, kiểm tra chất lượng..., khuôn rập, đất đai, dụng cụ va sự giảm giá những hàng hóa đặc biệt, nó không bao gồm tiền lãi hoặc chi phí kinh doanh nói chung, không trực tiếp quy định theo hàng hóa, cũng không phải là chi phí để chế tạo ra sản phẩm.

Các lợi ích CBI có giá trị cho phần lớn các sản phẩm được xuất khẩu vào Mỹ từ các nước CBI. Dù sao, một số sản phẩm đã lên xuống bất thường đều được CBI ưu đãi miễn thuế. Chúng bao gồm hàng dệt, quần áo, giày, túi xách tay, băng; lao động, đồ dùng bằng da nhẫn, quần áo da, đồng hồ và phụ kiện của nó, cá thu hộp và các sản phẩm dầu.

Ngoài ra, sự ưu đãi miễn thuế có thể bị hủy bỏ với các sản phẩm đường, xirô, mật mía, bia, sản phẩm thịt bê, nếu các nước hưởng lợi không đệ trình với Tổng thống quy định của đất nước trong 90 ngày, như một nước CBI một kế hoạch sản xuất thực phẩm. Kế hoạch này để bảo vệ mức dinh dưỡng, đất sử dụng, quyền sở hữu chủ và các nội dung khác. Quy định này có ý nghĩa ngăn chặn sự thay thế nhóm thức ăn cần thiết bởi việc tăng sản xuất đường và bia vì chúng được xuất khẩu miễn thuế. Các lợi ích cũng có thể bị tạm đình chỉ nếu các nước hưởng lợi không thi hành đúng cam kết và kế hoạch của nó.

Rượu xuất khẩu vào Mỹ sau ngày 31-12-1986 không được hưởng ưu đãi miễn thuế, trừ phi nó là sản phẩm địa phương của một nước CBI. Điều đó có nghĩa là : rượu của các nước không được hưởng lợi mà được cất ở một nước hưởng lợi thì không được hưởng ưu đãi miễn thuế.

Quốc hội đã hạn chế 20 triệu galon êta tại một Số nhà máy hàng năm 1987, 1988 và 1989 trong một trường hợp nhất định.

4. Các lợi ích về mậu dịch:

Theo CBI, sự ưu đãi miễn thuế có giá trị cho hầu hết các sản phẩm xuất khẩu tới Mỹ từ các nước GDI. Ngoài ra, để phát triển các sản phẩm có giá trị dưới chế độ ưu đãi phổ cập, CBI miễn thuế cho các sản phẩm này trong vòng 12 năm (không giống GSP, đây không có sự xem xét lại hàng năm một sản phẩm có thể bị gạt bỏ khỏi danh sách các sản phẩm được lựa chọn).

Mặc dù phần lớn hàng dệt, quần áo nhập khẩu không được hưởng ưu đãi miễn thuế, nhưng chương trình CBI vẫn cung cấp sự ưu đãi về hạn ngạch thích hợp hơn cho các hàng dệt và quần áo xuất khẩu của các nước CBI, là những mặt hàng được may từ vải mà 100% được Mỹ sản xuất. Mỹ dành "mức quyền hạn bảo đảm" cho các nước CBI dưới những cái thường xuyên được gọi là "Super 807", các quy định của lịch thuế quan.

5. Các quyền lợi về thuế:

CBI và văn bản pháp luật tiếp theo đã đề ra các lợi ích về thuế cho các nước CBI. Các lợi ích về thuế này chỉ có giá trị cho những quốc gia đã tham gia vào một hiệp ước trao đổi thông tin về thuế (TIEA) với Mỹ.

5.1 Hiệp ước về giảm thuế quan:

Các nước CBI tham gia vào TIEA với Mỹ được coi như một phần của "khu vực Bắc Mỹ" cho mục đích giảm bớt chi phí cho các hội nghị và các cuộc họp thương mại theo Bộ luật thu nhập quốc nội 1986. Sự đối xử như một phần của khu vực Bắc Mỹ có nghĩa là những nguyên tắc áp dụng để giảm chi phí cho các hội nghị thương mại được tổ chức Mỹ cũng sẽ áp dụng cho các hội nghị tổ chức ở nước ngoài.

5.2 Các hãng bán hàng ở nước ngoài:

Một hãng bán hàng nước ngoài (FSC) là một tổ chức được thành lập ngoài khu vực hải quan Mỹ, và thực hiện những nhiệm vụ nhất định cho một tổ chức Mỹ liên quan đến thu nhập xuất khẩu. Một phần của thu thập xuất khẩu được lấy từ những hoạt động kinh tế của FSC, được miễn thuế thu nhập Liêng bang. Ngoài ra, một Số tổ chức Mỹ có thể lấy đi tiền lãi cổ phần đã nhận của một tổ chức FSC, từ tiền kiếm được do một hãng bán hàng ở nước ngoài.

Để được xác định là một FSC, tổ chức cần được thành lập hoặc tổ chức theo luật pháp của nước ngoài hoặc quyền sở hữu của Mỹ khác với Puectô Ricô. Các quốc gia có các quy định cho một FSC trong một hiệp ước về thuế, và các nước vùng vịnh Caribê đã ký kết một TIEA, được xác định là những khu vực cho các FSC.

5.3 Phần 936 của Bộ luật thu nhập quốc nội

Đạo luật sửa đổi về thuế 1986 bao gồm một điều khoản trong phần 936 của bộ luật thu nhập quốc nội, điều khoản cho phép xác định các tổ chức Mỹ, các tổ chức đã đầu tư vào Puectô-Ricô và sự chiếm hữu khác của Mỹ.

Những chính sách miễn thuế của Mỹ dựa trên hai loại thu nhập :

+ Thu nhập từ các hoạt động kinh doanh ở Puectô-Ricô và những vật sở hữu.

+ Thu nhập từ những tích sản tài chính nhất định (thu nhập về đầu tư nguồn tài sản đã xác định, QPSII) có liên quan tới hoạt động kinh doanh ở Puectô-Ricô hoặc ở các nước CBI, những nước đã ký kết một TIEA. Các nhà đầu tư vào một nước CBI, những người đã vay QPSII những vốn quỹ từ một tổ chức tài chính ở Puectô-Ricô cần phải đầu tư vốn vay vào một hoạt động kinh doanh hoặc thương mại ở vùng vịnh Caribê.

6. Các hạn ngạch về đường:

Mỹ giới hạn mặt hàng đường nhập khẩu miễn thuế từ các nước CBI bằng việc đề ra các giới hạn về Số lượng cho các nước, hoặc bằng việc đề ra một giới hạn về giá trị dựa trên "nhu cầu cạnh tranh", những giới hạn đầ xác định trong chế độ ưu đãi phổ cập (GSP). Các hạn ngạch về mặt hàng đường nhập khẩu từ các nước Cộng hòa Dôminic, Góatêmala, và Panama đã bị đánh thuế, còn các nước khác có quyền lựa chọn, đòi hỏi những hạn ngạch hoàn hảo hoặc lệ thuộc vào các giới hạn của "nhu cầu cạnh tranh". Tổng thống có quyền điều chỉnh tăng thêm các giới hạn về số lượng nếu ông ta xác định việc làm đó sẽ không gây trở ngại cho chương trình trợ giúp giá đường của Mỹ. Những hạn ngạch này được áp dụng chỉ trong trường hợp không có hạn ngạch nào chặt chẽ hơn còn có hiệu lực theo quy định của bất kỳ một điều khoản nào của luật pháp.

7. Các điều khoản về cứu trợ nhập khẩu:

Tổng thống có thể tạm đình chỉ ưu đãi miễn thuế cho bất kỳ mặt hàng nào, nếu như "một điều khoản giải thoát" được ghi trong điều 201 của đạo luật thương mại, hoặc là một biện pháp an ninh quốc gia theo điều 232 của đạo luật phát triển buôn bán năm 1962. Tổng thống có quyền nhất định để duy trì ưu đãi miễn thuế cho mặt hàng không đươc đề ý đến trong việc tìm kiếm của ủy ban theo điều tra của điều 201.

8. Luật pháp mới:

Nhận thấy có nhiều hạn chế trong pháp luật gốc của Quốc hội, làm giảm hiệu quả của chương trình CBI trong việc hoàn thành các mục đích của nó (đầu tiên là sự phát triển kinh tế và sự vững mạnh ở các nước CBI). Nhiều thành viên của Quốc hội đã lo lắng sửa lại chương trình để khắc phục một vài hạn chế. Vào ngày 2-3-1989, Quốc hội đã giới thiệu luật pháp mới sẽ mở rộng chương trình CBI ở mức vô hạn (bằng việc xóa bỏ thời hạn cuối cùng) để khuyến khích đầu tư dài hạn khu vực. Ngoài ra, các điều khoản miễn thuế của chương trình cũng sẽ được mở rộng để bảo vệ một phần những loại sản phẩm không còn thông dụng : bao gồm quần áo, chất vải được may Mỹ. Nó cũng quy định mức thấp nhất cho những hạn ngạch về đường ở các khu vực, và cung cấp một khoản dự trữ riêng cho các nước CBI trong các trường hợp phải bán phá giá hoặc cần phải có bù đắp về thuế.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hàng còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê