Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê.

1. Kế hoạch hóa gia đình và chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình
Theo quy định tại Khoản 9 Điều 3 Pháp lệnh dân số 2003 có quy định thì kế hoạch hóa gia đình là nỗ lực của nhà nước, xã hội để mỗi cá nhân, cặp vợ chồng chủ động tự nguyện quyết định số con, thời gian sinh con và khoảng cách giữa các lần sinh nhằm bảo vệ sức khỏe, nuôi dạy con có trách nhiệm, phù hợp với chuẩn mực xã hội và điều kiện sống của gia đình. Kế hoạch hóa gia đình là biện pháp chủ yếu để điều chính mức sinh góp phần bảo đảm cuộc sống no ấm, bình đăng, tiến bộ, hạnh phúc. Biện pháp thực hiện kế hoạch hóa gia đình bao gồm : tuyên truyền tư vấn, giúp đỡ, bảo đảm để mỗi cá nhân, cặp vợ chồng chủ động tự nguyện thực hiện kế hoạch hóa gia đình, cung cấp các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình bảo đảm chất lượng, thuận tiện, an toàn và đến tận người dân, khuyến khích lợi ích vật chất và tinh thần, thực hiện các chính sách bảo hiểm để tạo động lực thúc đẩy việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình sâu rộng trong nhân dân. Nhà nước hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các chương trình, dự án về kế hoạch hóa gia đình, ưu tiên đối với vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn và người chưa đến tuổi thành viên
Chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình hiện nay được quy định như sau: nên sinh từ 1-2 con : sinh ít con sẽ làm giảm khả năng tai biên sản khoa, tranh sa sinh dực, bảo vệ được sức khỏe người phụ nữ tránh các tình trạng kém dinh dưỡng đồng thời còn bảo vệ vẻ đẹp của người phụ nữ. Khoảng cách sinh con nên từ 3-5 năm, không làm tăng thêm gánh nặng cho người phụ nữ về dinh dưỡng cũng như về sức khỏe giúp giảm suy dinh dưỡng, giảm tai biến sản khoa, giúp sinh dễ. Đồng thời người mẹ có thời gian chăm sóc trẻ, tránh bệnh tật, không sinh khoảng cách quá xa vi có thể đã quên kinh nghiệm nuôi con. Tuổi có con nên từ khoảng 22-35 , sinh lúc còn quá trẻ khi cơ thể chưa phát triển đầy đủ làm tăng tai biến sản khỏa, tăng tỉ lệ suy dinh dưỡng cho cả mẹ và con
2. Nam nữ bình đẳng và chính sách bình đẳng giới
Theo quy định tại Điều 18 Luật bình giới năm 2006 có quy định thì về bình đẳng giới trong gia đình gồm vợ chồng bình đẳng với nhau trong quan hệ dân sự và các quan hệ khác liên quan đến hôn nhân và gia đình, vợ chồng có quyền lợi ngang nhau trong sở hữu tài sản chung, bình đẳng trong sử dụng nguồn thu nhập chung của vợ chồng và quyết định các nguồn lực trong gia đình, vợ chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong sở hũu tài sản chung, bình đẳng trong sử dụng nguồn thu nhập chung của vợ chồng và quyết định các nguồn lực trong gia đình, vợ chồng bình đẳng với nhau trong việc bàn bạc, quyết định lựa chọn và sử dụng biện pháp kế hoạch hóa gia đình phù hợp sử dụng thời gian nghỉ chăm sóc con ốm theo quy định của pháp luật, con trai con gái được gia đình chăm sóc giáo dục và tạo điều kiện như nhau để học tập, lao động vui chơi. giải trí và phát triển. Các thành viên nam, nữ trong gia đình có trách nhiệm chia sẻ công việc gia đình.
Thực hiện bình đẳng giới trong gia đình là vợ chồng có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau trong các hoạt động của gia đình, có ý thức trách nhiệm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của họ một cách công bằng như quyền quyết định số con, khoảng cách sinh, số lần sinh, sinh con nào, kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc nuôi dạy con cái trên cơ sở chia sẻ giúp đỡ lẫn nhau của cả vợ và chồng giúp cho sự phát triển của gia đình gắn kết yêu thương nhau. Như vậy có thể nhận thấy thực hiện bình đẳng giới trong gia đình giúp con cái mỗi gia đình được nuôi dưỡng, chăm sóc chu đáo học hành tốt, lớn lên trở thành những công dân tốt cho gia đình và xã hội, sự quan tâm, giáo dục của gia đình đối với con cái là môi trường quan trọng giúp mỗi con người hòa nhập vào cộng đồng, thích ứng với đòi hỏi về nghề nghiệp, đạo đức, vốn sống của mỗi con người. Sự quan tâm của họ đối với con cái còn giúp cho con cái tránh những tệ nạn xã hội. Quá trình xã hội hóa giao dục được tạo bởi ba môi trường gia đình, nhà trường và xã hội. Trong đó gia đình là môi trường đầu tiên có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân, sự quan tâm giúp đỡ lẫn nhau của mỗi thành viên trong gia đình giúp mỗi con người có điều kiện phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ và tinh thần.
3. Giáo viên chưa kết hôn sinh con thứ 2 có gọi là vi phạm kế hoạch hóa gia đình không
3.1 Kết hôn và quan hệ hôn nhân
Theo quy định thì hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn , chế độ hôn nhân và gia đình là toàn bộ những quy định của pháp luạt về kết hôn, ly hôn, quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con, giữa các thành viên khác trong gia đình, cấp dưỡng, xác định cha, mẹ , con, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và những vấn đề khác liên quan đến hôn nhân và gia đình, cấp dưỡng, xác định cha, mẹ, con, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và những vấn đề khác liên quan đến hôn nhân và gia đình. Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn
3.2 Con ngoài giá thú
Pháp luật Việt Nam hiện nay chưa có quy định cụ thể thế nào là con ngoài giá thú. Tuy nhiên có thể hiểu con ngoài giá thú là con sinh ra nhưng cha mẹ sinh ra không phải là vợ chồng không có quan hệ hôn nhân theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ đối với con không phân biệt con ngoài giá thú hay con giá thú , cha mẹ có quyền và nghĩa vụ thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con, chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội, trông nom, nuôi dưỡng chăm soc bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tính trạng hôn nhân của cha mẹ, không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động , không được xúi giục ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
4. Có đủ cơ sở để xử lý kỷ luật không?
Tóm lại, trong trường hợp này việc sinh con ngoài giá thú pháp luật không cấm, trong trường hợp này không bắt buộc phải kết hôn xong rồi mới có con, con sinh ra không trong quan hệ hôn nhân thì đó là trường hợp con sinh ra ngoài giá thú, và hiện tại như nội dung bạn có trao đổi thì trong trường hợp này giáo viên của trường bạn hiện tại đã sinh con thứ 2 như vậy cũng chưa có cơ sở để xem xét vấn đề xử lý kỷ luật đối với giáo viên này. Tuy nhiên bạn chưa nói rõ về trường hợp người giáo viên này có phải là Đảng viên hay không, nếu là đảng viên thì phải xem cái hành vi đó có gây nên những dư luận xấu hay không, nhưng trong phạm vi trường hợp những nội dung câu hỏi trên đây, thì chưa đủ cơ sở để xử lý kỷ luật giáo viên này trong trường hợp này.
Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý, bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật qua tổng đài điện thoại, gọi ngay tới số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng cám ơn!
Bộ phận tư vấn luật - Công ty luật Minh Khuê