1. Khái niệm và đặc điểm của hành vi tham nhũng

Cho đến thời điểm hiện nay định nghĩa chung về tham nhũng chưa được thừa nhận và áp dụng một cách rộng rãi trên phạm vi toàn cầu. Hiện nay có một số quan điểm về khái niệm tham nhũng như sau: Theo ngân hàng thế giới (World Bank) tham nhũng là "hành vi lạm dụng quyền lực công để thu lợi ích riêng". Theo tổ chức Minh bạch quốc tế (Transparency International) thì tham nhũng được hiểu là "hành động lạm dụng quyền lực được giao để làm giàu bất chính hoặc bất hợp pháp cho bản thân hoặc cho những người thân cận của một bộ phận nhân viên công quyền, có thể là các nhà chính trị hoặc viên chức"

Còn ở Việt Nam theo quy định tại khoản 1 điều 3 Luật phòng, chống tham nhũng 2018 quy định “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”. Qua đó có thể hiểu tham nhũng là hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn để gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, tập thể, cá nhân, xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức. 

Đặc điểm của hành vi tham nhũng bao gồm: 

  • Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ quyền hạn.
  • Khi thực hiện hành vi tham nhũng người có chức vụ quyền hạn đã lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình để thu lợi ích riêng.
  • Động cơ của hành vi tham nhũng là vụ lợi

2. Nguyên nhân dẫn đến hành vi tham nhũng

Nguyên nhân chung: Quản lý nhà nước còn yếu kém, những hạn chế về chính sách pháp luật, lương thấp, cơ chế và hệ thống phòng, chống tham nhũng chưa được xây dựng hoặc hoạt động hình thức....

Nguyên nhân dẫn đến tham nhũng ở nước ta: Mức sống của người dân và đội ngũ cán bộ công chức, viên chức còn thấp, hệ thống pháp luật về phòng, chống tham nhũng chưa hoàn thiện, văn hoá truyền thống của nước ta chứa đựng khá nhiều phong tục tập quán dễ bị lợi dụng để biện minh và ủng hộ cho hành vi tham nhũng. Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác như công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, về phòng, chống tham nhũng còn thiếu phù hợp, do ảnh hưởng của mặt trái nền kinh tế thị trường, hệ thống cơ quan chuyên trách về phòng, chống tham nhũng mặc dù đã được xây dựng nhưng chức năng, nhiệm vụ của một số cơ quan còn chưa rõ ràng…

3. So sánh các biện pháp phòng ngừa tham nhũng quy định  trong UNCAC và trong Luật phòng, chống tham nhũng 2018 của Việt Nam. 

3.1. Các biện pháp phòng ngừa tham nhũng trong Luật phòng chống tham nhũng 2018 của Việt Nam

3.1.1 Thực hiện giám sát, công khai, minh bạch để phòng ngừa tham nhũng

Luật phòng, chống tham nhũng 2018 đã quy định về các nội dung và thủ tục hành chính để giải quyết các nội dung cần công khai, minh bạch như: Việc thực hiện chính sách, pháp luật có nội dung liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân,bố trí, quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công, kinh phí huy động từ các nguồn hợp pháp khác. Bố trí, quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công hoặc kinh phí huy động từ các nguồn hợp pháp khác. Bên cạnh đó, Luật phòng, chống tham nhũng 2018 cũng đã quy định về trách nhiệm giải trình của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc người được phân công, người được ủy quyền hợp pháp để thực hiện trách nhiệm giải trình về quyết định, hành vi của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao khi có yêu cầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân bị tác động trực tiếp bởi quyết định, hành vi đó.

Ngoài ra, luật còn quy định về các biện pháp giám sát như: Thứ nhất, giám sát từ bên trong bộ máy nhà nước (các cơ quan khác nhau ở trung ương, địa phương, các cơ quan chuyên trách về thanh tra, kiểm toán, công tố...). Đây là biện pháp hướng tới việc tổ chức bộ máy nhà nước cần tạo ra cơ chế kiểm soát lẫn nhau, tránh việc một cơ quan có quyền lực không giới hạn, không phải chịu trách nhiệm giải trình khi lạm quyền. Thứ hai, giám sát từ bên ngoài bộ máy nhà nước (xã hội dân sự, báo chí, truyền thông, giới học thuật…). Biện pháp này xác định bầu cử dân chủ là tiền đề quan trọng. Nhân dân sẽ không trao quyền cho những người thiếu tin cậy về liêm chính, cũng như sẽ thay thế những đại biểu do mình bầu ra đang vướng phải những nghi ngờ tham nhũng. Ngoài ra các tổ chức xã hội dân sự, giới truyền thông và quần chúng nhân dân là những lực lượng rất quan trọng, không thể thiếu trong công tác phòng ngừa tham nhũng.

3.1.2. Phòng ngừa tham nhũng thông qua việc xây dựng, ban hành và thực hiện định mức, tiêu chuẩn, chế độ

 Các cơ quan có trách nhiệm xây dựng, ban hành, công khai quy định về định mức, tiêu chuẩn, chế độ và thực hiện, công khai các kết quả đạt được. Các tổ chức hướng dẫn áp dụng hoặc phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng, ban hành, công khai định mức, tiêu chuẩn, chế độ áp dụng trong tổ chức, đơn vị mình, thực hiện và công khai kết quả thực hiện quy định về định mức, tiêu chuẩn, chế độ đó.

3.1.3. Thực hiện quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn. 

Luật quy định người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị phải thực hiện quy tắc ứng xử, bao gồm các chuẩn mực xử sự là những việc phải làm hoặc không được làm phù hợp với pháp luật và đặc thù nghề nghiệp nhằm bảo đảm liêm chính, trách nhiệm, đạo đức công vụ. Bên cạnh đó, không được nhũng nhiễu trong giải quyết công việc, không được sử dụng trái phép thông tin của cơ quan, tổ chức, đơn vị….Người được giao tiến hành nhiệm vụ công vụ nếu biết hoặc phải biết có xung đột lợi ích xảy ra thì phải báo cáo người có thẩm quyền để xem xét, xử lý. Quy tắc ứng xử của người có chức vụ quyền hạn được quy định cụ thể như sau: 

  • Các quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức

Nghĩa vụ báo cáo và xử lý báo cáo về dấu hiệu tham nhũng xảy ra trong cơ quan, tổ chức, đơn vị: Quy định tại điều 38 – Khi phát hiện có dấu hiệu tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi mình làm việc thì cán bộ, công chức, viên chức phải báo cáo ngay với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị đó. Trường hợp người đứng đầu cơ quan tổ chức, đơn vị có liên quan đến dấu hiệu tham nhũng đó thì báo cáo với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên.

Tặng quà và nhận quà tặng của cán bộ, công chức, viên chức: Điều 40 quy định cơ quan, tổ chức, đơn vị không được sử dụng ngân sách, tài sản của nhà nước làm quà tặng, cán bộ, công chức, viên chức không được nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân liên quan đến công việc do mình giải quyết hoặc thuộc phạm vi quản lý của mình, nghiêm cấm việc lợi dụng việc tặng quà, nhận quà tặng để hối lộ hoặc thực hiện các hành vi khác từ vụ lợi.

  • Các quy tắc đạo đức nghề nghiệp:

 Là chuẩn mực xử sự phù hợp với đặc thù của từng nghề bảo đảm sự liêm chính. Quy định này áp dụng với một số nghề đặc thù, hoạt động có tính chất độc lập như luật sư, kiểm toán viên… Mặc dù đây không phải là những người thuộc đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong cơ quan nhà nước nhưng việc tuân thủ những quy định về chuẩn mực đạo đức trong quá trình hành nghề giúp hướng tới một nền văn hóa phi tham nhũng trong toàn xã hội.

3.1.4. Thực hiện chuyển đổi vị trí công tác

Nội dung này được quy định tại điều 43 Luật phòng, chống tham nhũng 2018 theo đó, các cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức không giữ chức vụ quản lý, lãnh đạo, việc chuyển đổi này có phải bảo đảm khách quan, hợp lý, phù hợp với chuyên môn, nghiệp vụ và không làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, đơn vị.

2.1.5. Cải cách hành chính, ứng dụng khoa học, công nghệ trong quản lý và thanh toán không dùng tiền mặt 

Luật phòng, chống tham nhũng 2018 quy định các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phạm vi quyền hạn của mình có trách nhiệm công khai, hướng dẫn thủ tục hành chính, đơn giản hóa và cắt giảm thủ tục trực tiếp tiếp xúc với cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khi giải quyết công việc. Bên cạnh đó, đầu tư trang thiết bị, nâng cao năng lực, đẩy mạnh sáng tạo, áp dụng khoa học kỹ thuật vào thực tiễn. Hạn chế việc thanh toán dùng tiền mặt đối với các khoản thu, chi có giá trị lớn.

2.1.6. Kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị

Luật phòng, chống tham nhũng 2018 đã mở rộng thêm đối tượng và bổ sung thêm một số loại tài sản, thu nhập phải kê khai, nhiệm vụ và trách nhiệm của các bên liên quan đến việc kiểm soát tài sản, thu nhập. Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập xác minh tài sản, thu nhập khi có dấu hiệu rõ ràng về việc kê khai tài sản, thu nhập không trung thực; có biến động tăng về tài sản. Người kê khai tài sản có trách nhiệm kê khai trung thực, chịu trách nhiệm về việc kê khai tài sản hiện có của mình và thuộc sở hữu của vợ, chồng và con chưa thành niên.

3.2. Các biện pháp phòng ngừa tham nhũng quy định trong UNCAC

Các biện pháp phòng chống tham nhũng được quy định trong UNCAC như sau: 

Thành lập các cơ quan phòng chống tham nhũng: UNCAC đã yêu cầu các quốc gia thành viên thành lập một hoặc một số cơ quan có trách nhiệm phòng chống tham nhũng và đảm bảo sự độc lập cần thiết cho các cơ quan này. Cơ  quan phòng, chống có sự độc lập cần thiết trên cơ sở phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước mình nhằm giúp cho những cơ quan này có thể thực hiện chức năng của mình một cách hiệu quả và không chịu bất kỳ sự ảnh hưởng trái pháp luật nào.

 Phòng ngừa tham nhũng trong lĩnh vực công, các quốc gia thành viên sẽ nỗ lực duy trì ban hành, thực hiện chế độ tuyển dụng, thuê, sử dụng, đề bạt và hưu trí đối với công chức dựa trên các nguyên tắc hiệu quả, minh bạch và tiêu chí khách quan như năng lực và sự công bằng.

Xây dựng các quy tắc ứng xử cho công chức: UNCAC yêu cầu các quốc gia thành viên nỗ lực áp dụng, trong khuôn khổ hệ thống pháp luật và thể chế nước mình các quy tắc ứng xử cho đội ngũ công chức trong đó bao gồm cả việc tạo thuận lợi cho công chức báo cáo về những hành vi tham nhũng mà họ phát hiện được trong khi thi hành công vụ, cũng như báo cáo về những vấn đề có thể gây ra xung đột lợi ích khi họ thực hiện công vụ.

Bảo đảm minh bạch trong mua sắm và quản lý tài sản công: Mỗi quốc gia thành viên tiến hành các bước cần thiết để xây dựng được các cơ chế mua sắm phải minh bạch sổ sách kế toán, chứng từ, báo cáo tài chính và các tài liệu khác về thu, chi công.

Công khai thông tin của các cơ quan công quyền: Công khai thông tin của các cơ quan công quyền bao gồm cả tổ chức, quá trình thực hiện và ra quyết định. Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân, đơn giản hóa thủ tục hành chính. 

Phòng ngừa tham nhũng trong hoạt động tư pháp: Các quốc gia thành viên áp dụng các biện pháp tăng cường tính liêm chính và phòng ngừa cơ hội tham nhũng đối với cán bộ tòa án và cán bộ cơ quan công tố. Những biện pháp tăng cường tính liêm chính được áp dụng đối với hệ thống toà án cũng đồng thời cũng có thể được ban hành và áp dụng trong cơ quan công tố ở những quốc gia thành viên mà cơ quan công tố không trực thuộc hệ thống toà án, có vị trí độc lập như các cơ quan tư pháp.

Phòng ngừa tham nhũng trong khu vực tư: Các quốc gia thành viên của UNCAC tăng cường các tiêu chuẩn kế toán và kiểm toán trong khu vực tư, ban hành những chế tài dân sự, hành chính hoặc hình sự có tính răn đe đối với những hành vi không tuân thủ các biện pháp này. Để đạt được mục đích này các quốc gia phải có những chính sách, biện pháp cần thiết để cấm những hành vi vi phạm khi thấy phù hợp và trong một thời gian hợp lý, những người đã từng là công chức thực hiện các hoạt động nghề nghiệp hoặc cấm khu vực tư nhân tuyển dụng công chức vào làm việc. Bên cạnh đó, ở mỗi quốc gia không cho phép việc khấu trừ thuế với các tài khoản tham nhũng.

Huy động sự tham gia của xã hội vào phòng chống tham nhũng: Các quốc gia thành viên áp dụng các biện pháp nhằm nâng cao nhận thức của công chúng  về tham nhũng, thúc đẩy sự tham gia của các cá nhân, tổ chức ngoài khu vực vào công tác phòng ngừa và đấu tranh phòng chống tham nhũng. Tiến hành các biện pháp thích hợp đảm bảo công chúng biết đến các cơ quan chống tham nhũng và phải cho phép công chúng tiếp cận với các cơ quan này.

Áp dụng các biện pháp chống rửa tiền: Chống rửa tiền là biện pháp phòng ngừa, phát hiện và khắc phục hậu quả tham nhũng một cách hữu hiệu. Vì vậy,  UNCAC quy định các quốc gia thiết lập cơ chế giám sát toàn diện đối với ngân hàng, tổ chức tài chính phi ngân hàng và các cơ quan dễ phát sinh rửa tiền, nhằm ngăn chặn, phát hiện mọi hình thức rửa tiền. Đồng thời cần áp dụng các biện pháp khả thi nhằm kiểm soát, phát hiện việc di chuyển tiền mặt và tài sản qua biên giới nhưng không được gây trở ngại đối với các dòng vốn hợp pháp, trong đó có thể bao gồm việc yêu cầu báo cáo về việc chuyền qua biên giới những lượng tiền mặt lớn và vật có giá trị.

Các biện pháp phòng, chống tham nhũng của UNCAC về chống tham nhũng trong phòng ngừa tham nhũng được đề cập với phạm vi rộng, có cả những yêu cầu chung đối với hệ thống pháp luật, việc tổ chức thực thi và cả những yêu cầu rất cụ thể trong những hoạt động quản lý cụ thể, đòi hỏi nỗ lực nội luật hoá và thi hành nghiêm túc của quốc gia thành viên mới có thể đáp ứng được.

Trên đây là bài tổng hợp về so sánh các biện pháp phòng ngừa tham nhũng quy định trong UNCAC và trong Luật PCTN 2018 của Việt Nam.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác quý khách vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty luật Minh Khuê