1. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại là gì?

Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại là một dạng trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý bất lợi mà pháp nhân thương mại phải gánh chịu trước nhà nước, do pháp nhân đó thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho xã hội mà những hành vi này được quy định là tội phạm trong pháp luật hình sự.

2. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Theo Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì:

Theo khoản 2 Điều 2: Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

Điều 3 Nguyên tắc xử lí "Đối với pháp nhân thương mại phạm tội":

a) Mọi hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật;

b) Mọi pháp nhân thương mại phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế;

c) Nghiêm trị pháp nhân thương mại phạm tội dùng thủ đoạn tinh vi, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng;

d) Khoan hồng đối với pháp nhân thương mại tích cực hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra, chủ động ngăn chặn hoặc khắc phục hậu quả xảy ra.

3. Các hình phạt áp dụng đối với pháp nhân?

Theo Điều 33 Bộ luật hình sự:

Các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội

1. Hình phạt chính bao gồm:

a) Phạt tiền;

Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung đối với pháp nhân thương mại phạm tội.

Mức tiền phạt được quyết định căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội, sự biến động của giá cả nhưng không được thấp hơn 50.000.000 đồng.

b) Đình chỉ hoạt động có thời hạn;

Đình chỉ hoạt động có thời hạn là tạm dừng hoạt động của pháp nhân thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe con người, môi trường hoặc an ninh, trật tự, an toàn xã hội và hậu quả gây ra có khả năng khắc phục trên thực tế.

Thời hạn đình chỉ hoạt động từ 06 tháng đến 03 năm.

c) Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.

Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn là chấm dứt hoạt động của pháp nhân thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại hoặc có khả năng thực tế gây thiệt hại đến tính mạng của nhiều người, gây sự cố môi trường hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và không có khả năng khắc phục hậu quả gây ra.

Pháp nhân thương mại được thành lập chỉ để thực hiện tội phạm thì bị đình chỉ vĩnh viễn toàn bộ hoạt động.

2. Hình phạt bổ sung bao gồm:

a) Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định;

Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định được áp dụng khi xét thấy nếu để pháp nhân thương mại bị kết án tiếp tục kinh doanh hoặc hoạt động trong lĩnh vực đó, thì có thể gây nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người hoặc cho xã hội.

Tòa án quyết định lĩnh vực cụ thể bị cấm kinh doanh hoặc cấm hoạt động.

Thời hạn cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định là từ 01 năm đến 03 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

b) Cấm huy động vốn;

Cấm huy động vốn được áp dụng khi xét thấy nếu để pháp nhân thương mại bị kết án huy động vốn thì có nguy cơ tiếp tục phạm tội.

Các hình thức cấm huy động vốn bao gồm:

- Cấm vay vốn ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc các quỹ đầu tư;

- Cấm phát hành, chào bán chứng khoán;

- Cấm huy động vốn khách hàng;

- Cấm liên doanh, liên kết trong và ngoài nước;

- Cấm hình thành quỹ tín thác bất động sản.

Tòa án quyết định áp dụng một hoặc một số hình thức cấm huy động vốn quy định tại khoản 2 Điều này.

Thời hạn cấm huy động vốn là từ 01 năm đến 03 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

c) Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính.

3. Đối với mỗi tội phạm, pháp nhân thương mại phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.

4. Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại là gì?

Pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại;

b) Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại;

c) Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại;

d) Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của Bộ luật này.

Việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân.

5. So sánh quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân của Việt Nam và các quốc gia khác

Theo quy định (năng lực trách nhiệm hình sự) người/cá nhân/thể nhân có thể là chủ thể của tội phạm và do vậy có thể là chủ thể của trách nhiệm hình sự. Đây là quan niệm đã được thừa nhận về lý luận cũng như được thể hiện trực tiếp trong quy định của pháp luật hình sự của nhiều quốc gia. Theo đó,

“cơ sở của trách nhiệm hình sự (được đặt ra cho người/cá nhân/thể nhân) là việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm”.

Các bộ luật hình sự (BLHS) của Việt Nam đểu thể hiện rõ nguyên tắc này. Khoản 1 Điều 2 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

“Chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”.

Tương tự như vậy, Điều 8 BLHS Liên bang Nga năm 1996 quy định:

“Cơ sở của trách nhiệm hình sự là việc thực hiện hành vi bao hàm mọi dấu hiệu cấu thành tội phạm mà Bộ luật này quy định”.

Như vậy, việc truy cứu trách nhiệm hình sự là dựa trên cơ sở người/ cá nhân/thể nhân đã thực hiện hành vi được luật xác định là tội phạm.

Cùng với sự phát triển của xã hội và sự thay đổi của tình hình tội phạm, quan niệm chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự người/cá nhân/ thể nhân trên cơ sở hành vi phạm tội mà họ đã thực hiện không còn phù hợp. Thực tiễn chống và phòng ngừa tội phạm đòi hỏi phải truy cứu trách nhiệm hình sự cả chủ thể không phải là người/cá nhân/thể nhân. Theo đó, nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam đã quy định bổ sung trách nhiệm hình sự của chủ thể không phải là người/cá nhân/thể nhân. Chủ thể này có thể được gọi bằng các tên khác nhau. Trong đó, “pháp nhân” là tên gọi được sử dụng tương đối phổ biến. Bên cạnh đó, còn có các tên gọi khác như “đơn vị” (Áo, Trung Quốc); “tổ chức” (Thụy Sỹ) hoặc “pháp nhân thương mại” (Việt Nam). Trong phạm vi nghiên cứu này, khái niệm “pháp nhân” được sử dụng làm tên gọi cho chủ thể không phải là người/ cá nhần/thể nhân và chỉ có ý nghĩa đối lập với “thể nhân” (người/cá nhân) mà không gắn với điều kiện được coi là pháp nhân theo quy định của pháp luật bất cứ quốc gia nào.

Việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân gặp “rào cản” đầu tiên chính từ quan niệm truyền thống vể cơ sở của trách nhiệm hình sự. Pháp nhân tuy có thể là chủ thể của các quan hệ pháp luật khác nhau nhưng lại không thể tự thực hiện hành vi, trong đó có hành vi bị quy định là tội phạm. Theo đó, việc quy định trách nhiệm hình sự cho pháp nhân là trái với lý luận, trái với nguyên tắc “hành vi” và nguyên tắc “có lỗi”. Vì vậy, vấn đê' được đặt ra là cân phải “.. giải quyết những vướng mắc về lý luận trong việc áp dụng trách nhiệm hình sự đỗi vối... pháp nhân”. Từ đó, các học thuyết vê' trách nhiệm hình sự của pháp nhân đã ra đời để giải thích pháp nhân vẫn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự mặc dù không thể thực hiện hành vi phạm tội. Đó là thuyết trách nhiệm thay thế (Theory of Vicarious liability); thuyết đồng nhất trách nhiệm (Theory of Identihcation liability) và thuyết văn hóa pháp nhân (Theory of Culture...). Trong đó, thuyết trách nhiệm thay thế là thuyết cho phép buộc pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự vê' hành vi phạm tội do người của pháp nhân thực hiện. Đây thực chất là việc mở rộng nguyên tắc trách nhiệm thay thế trong lĩnh vực pháp luật dân sự đã được thừa nhận sang lĩnh vực pháp luật hình sự. Thuyết đồng nhất trách nhiệm quan niệm hành vi phạm tội của cá nhân/thể nhân là người lãnh đạo hoặc thành viên của cơ quan lãnh đạo của pháp nhân, có quyền ra quyết định liên quan đến hoạt động của pháp nhân (bao gồm hành vi gầy thiệt hại của cá nhân và lỗi của họ) được coi là hành vi phạm tội của pháp nhân. Hành vi phạm tội của pháp nhân và hành vi phạm tội của họ là đồng nhất với nhau. Học thuyết văn hóa pháp nhân cho rằng pháp nhân có cơ sở phải chịu trách nhiệm hình sự vê' hành vi phạm tội do người của pháp nhân thực hiện khi pháp nhân có lỗi đối với việc xảy ra hành vi phạm tội đó. Từ các học thuyết này, các nhà nghiên cứu có thể đưa ra một số nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự cũng như các nhà làm luật có thể cụ thể hóa thành các điều luật xác định điều kiện, phạm vi phải chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân.

6. Các tội mà pháp nhân thương mại phải chịu?

Điều 188 (tội buôn lậu); Điều 189 (tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới); Điều 190 (tội sản xuất, buôn bán hàng cấm); Điều 191 (tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm); Điều 192 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả); Điều 193 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm); Điều 194 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh); Điều 195 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi); Điều 196 (tội đầu cơ); Điều 200 (tội trốn thuế); Điều 203 (tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước); Điều 209 (tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán); Điều 210 (tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán); Điều 211 (tội thao túng thị trường chứng khoán); Điều 213 (tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm); Điều 216 (tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động); Điều 217 (tội vi phạm quy định về cạnh tranh); Điều 225 (tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan); Điều 226 (tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp); Điều 227 (tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên); Điều 232 (tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản); Điều 234 (tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã);

Điều 235 (tội gây ô nhiễm môi trường); Điều 237 (tội vi phạm phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường); Điều 238 (tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông); Điều 239 (tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam); Điều 242 (tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản); Điều 243 (tội hủy hoại rừng); Điều 244 (tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm); Điều 245 (tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên); Điều 246 (tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại).

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)