1. Vai trò của dịch vụ viễn thông

Lĩnh vực viễn thông (telecom) giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển nền kinh tế hiện đại, “toàn cầu”, thông qua việc chuyển tải thông tin ngày càng nhanh chóng giữa các cá nhân và doanh nghiệp. Tích hợp lĩnh vực này vào Hiệp định GATS vừa dễ gây ra bất đồng nhưng cũng vừa đáp ứng mong muốn. Nếu như tự do hóa dịch vụ mang lại lợi ích thì viễn thông chính là ứng viên hàng đầu của sự nghiệp đó. Nhưng ở nhiều nước, viễn thông là một dịch vụ công ích, những dịch vụ viễn thông cơ bản được coi là một đặc quyền nội địa. Phụ lục GATS về viễn thông xác định rõ ràng nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được tiếp cận cơ sở hạ tầng cơ bản của mạng viễn thông công cộng mà không có sự phân biệt đối xử nào. Trong khi một số nước liệt kê một số dịch vụ viễn thông có giá trị gia tăng vào danh mục của họ, đưa những dịch vụ này vào luật không phân biệt đối xử theo quy định của phụ lục thì Vòng Uruguay kết thúc mà không có cam kết cụ thể nào về tự do hóa các dịch vụ viễn thông cơ bản như dịch vụ thoại chẳng hạn.

2. Động lực thúc đẩy sự ra đời một hiệp định về lĩnh vực viễn thông

Chỉ một thời gian ngắn sau khi Vòng Uruguay kết thúc, một thỏa thuận bao hàm các cam kết về tự do hóa các dịch vụ viễn thông căn bản được đem ra thương thảo. Thất bại trong việc đạt tới một thỏa thuận trong thời gian vòng đàm phán có lẽ là do phán đoán sai hơn là do những khác biệt căn bản khi thương thuyết. Và ngay sau Vòng Uruguay, có hai sự kiện kết hợp với nhau tạo thuận lợi cho việc đi đến một thỏa thuận. Một là Hoa Kỳ đưa lực lượng thị trường của mình ra gánh chịu những cuộc thương thảo căn bản về viễn thông thời kỳ hậu Vòng Uruguay. Khi vòng đàm phán kết thúc, các nhà đàm phán của GATT/WTO đồng ý tiếp tục thương thảo về dịch vụ viễn thông căn bản. Cùng lúc đó, Hoa Kỳ cắt giảm cam kết về quy chế tối huệ quốc trong lĩnh vực viễn thông căn bản, và hé cho thấy sẽ đe dọa phân biệt đối xử với các nhà cung cấp dịch vụ từ các quốc gia không sẵn sàng thương thảo (Steinberg 1994). Hai là, người tiêu dùng các dịch vụ viễn thông căn bản đã tổ chức lại ở một số quốc gia, đòi hỏi tự do hóa để họ có thể làm việc có năng suất cao hơn nhờ vào những lợi thế mà cuộc cách mạng công nghệ thông tin mở ra. Điều đó đã lay chuyển chính sách thương mại của các nước, chống lại các công ty độc quyền về bưu chính, điện tín và điện thoại (PTT) vốn trước đây rất hùng mạnh (Borrus và Cohen 1997). Từ đó trở đi việc ký kết thỏa thuận tự do hóa các dịch vụ viễn thông căn bản đã được kích thích bởi quyết định của ủy ban Truyền thông Liên bang vào cuối năm 1996, áp đặt một mức giá trần mà nhà cung cấp dịch vụ viễn thông Hoa Kỳ có thể thanh toán cho các nước khác, một biện pháp điều tiết đơn phương đã kéo tụt mức cước thanh toán một cách ngoạn mục (Cowhey và Sherman 1998).

3. Sự ra đời của Agreement on Basic Telecommunications

Cũng từ đó, các cuộc thương thảo đã kết thúc thành công vào tháng 2-1997 với một Hiệp định về Dịch vụ Viễn thông Căn bản (Agreement on Basic Telecommunications). Hiệp định điều phối có hiệu quả những nhà điều hành quốc gia - tức là những công ty độc quyền về PTT cũ. Ở nhiều quốc gia, nhất là các nước đang phát triển, thỏa thuận giúp cho các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông nước ngoài làm suy giảm đáng kể thị phần, kích thước quy mô và quyền kiểm soát của các công ty độc quyền về PTT. Một vài người cho rằng những quy định quốc gia mới ở một số nước có thể thuận lợi cho việc thành lập những công ty viễn thông tư nhân độc quyền hoặc tĩnh trạng các công ty đều có thị phần nhưng không ai độc quyền chi phối, thay thế các công ty PTT bằng những tư nhân trục lợi.

4. Tiếp cận và sử dụng dịch vụ và hệ thống thông tin viễn thông công cộng

Theo phụ lục về thông tin viễn thông tin viễn thông trong GATS thì:

(a) Mỗi Thành viên phải đảm bảo rằng bất kỳ nhà cung cấp dịch vụ nào của bất kỳ Thành viên nào sẽ được tiếp cận và sử dụng dịch vụ và hệ thống thông tin viễn thông công cộng với những điều kiện và điều khoản hợp lý và không phân biệt đối xử, để cung cấp một dịch vụ được nêu trong Danh mục cam kết của mình. Nghĩa vụ này sẽ được áp dụng, ngoài những quy định khác, theo những quy định được nêu tại điểm (b) đến điểm (f).

(b) Mỗi Thành viên phải đảm bảo rằng các nhà cung cấp dịch vụ của bất kỳ một Thành viên nào khác sẽ được tiếp cận và sử dụng dịch vụ và hệ thống thông tin viễn thông công cộng được cung cấp trong và qua toàn bộ lãnh thổ của Thành viên đó, kể cả những mạch cho thuê tư nhân, và kết quả này sẽ đảm bảo rằng những người cung cấp dịch vụ đó sẽ được phép, tùy thuộc vào các quy định từ điểm (e) đến điểm (f):

(i) mua hoặc thuê và nối các đầu máy hoặc các thiết bị khác giao diện với mạng và cần thiết cho người cung cấp cung cấp dịch vụ;

(ii) được nối mạch thuê hoặc sở hữu tư nhân với dịch vụ hoặc mạng thông tin viễn thông công cộng hoặc với các mạch được những người cung cấp dịch vụ khác thuê hoặc sở hữu;

(iii) sử dụng các bảng kế hoạch khai thác do các nhà cung cấp dịch vụ tự chọn trong việc cung cấp dịch vụ, không chỉ giới hạn ở những gì vẫn được các dịch vụ và mạng vận chuyển thông tin viễn thông công cộng cung cấp một cách phổ biến.

(c) Mỗi Thành viên phải đảm bảo rằng các nhà cung cấp dịch vụ của bất kỳ Thành viên nào khác có thể sử dụng được các dịch vụ và mạng vận chuyển thông tin viễn thông công cộng để chuyển thông tin bên trong và qua biên giới, kể cả thông tin nội bộ công ty của các nhà cung cấp dịch vụ đó, và được tiếp cận thông tin có trong những cơ sở dữ liệu hoặc được lưu trữ dưới hình thức đọc được trên máy trong phạm vi trên lãnh thổ của bất kỳ Thành viên nào. Bất kỳ biện pháp nào mới hoặc mới được một Thành viên sửa đổi có tác động đáng kể đến việc sử dụng như nêu trên sẽ được thông báo và chấp nhận tham vấn, phù hợp với những quy định của Hiệp định này.

(d) Dù có các quy định tại khoản trên, một Thành viên có thể thực hiện biện pháp cần thiết để đảm bảo tính an toàn và bảo mật của những thông điệp, với điều kiện là một biện pháp như vậy không áp dụng theo cách tạo nên một sự phân biệt đối xử tùy tiện hoặc không có cơ sở hoặc hạn chế trá hình với thương mại dịch vụ.

(e) Mỗi Thành viên phải bảo đảm không đặt điều kiện với việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ và mạng vận chuyển thông tin viễn thông công cộng quá mức cần thiết:

(i) để bảo vệ những trách nhiệm với dịch vụ công cộng của nhà cung cấp dịch vụ và mạng vận chuyển thông tin viễn thông công cộng, đặc biệt là khả năng đảm bảo để mạng hoặc dịch vụ sẵn sàng phục vụ công chúng nói chung; hoặc

(ii) để bảo hộ tính thống nhất kỹ thuật của các dịch vụ và mạng vận chuyển thông tin viễn thông công cộng; hoặc

(iii) để đảm bảo rằng các nhà cung cấp dịch vụ của bất kỳ một Thành viên nào cũng không cung cấp dịch vụ vượt quá khuôn khổ được phép như đã nêu trong Danh mục cam kết của một Thành viên.0

(f) Khi một thành viên đã đáp ứng các tiêu chuẩn nêu tại đoạn (e) nói trên, điều kiện để tiếp cận và sử dụng các dịch vụ và mạng vận chuyển thông tin viễn thông công cộng có thể bao gồm:

(i) hạn chế việc bán lại hoặc sử dụng chung các dịch vụ;

(ii) một yêu cầu về sử dụng giao diện kỹ thuật cụ thể, kể cả những sơ đồ nối mạch, để tiếp nối với những mạng và dịch vụ như vậy;

(iii) khi cần thiết, yêu cầu tính đảm bảo hoạt động giữa những dịch vụ được cung cấp đó và để khuyến khích hòan thành các mục đích được đặt ra tại khỏan 7(a);

(iv) đồng nhất hóa các đầu máy cuối hoặc các thiết bị được sử dụng để hòa mạng và quy định những yêu cầu kỹ thuật về gắn đặt những thiết bị đó vào những mạng như vậy;

(v) những hạn chế về hòa mạng với những mạch do tư nhân thuê hoặc sở hữu vào những dịch vụ hoặc mạng, hoặc với những mạch do những người cung cấp dịch vụ khác thuê hoặc sở hữu; hoặc

(vi) thông báo, đăng ký và cấp phép.

(g) Dù có các khoản trên đây của phần này, một Thành viên đang phát triển, phù hợp với trình độ phát triển của mình, có thể đặt ra những điều kiện hợp lý để tiếp cận và sử dụng các dịch vụ và mạng vận chuyển thông tin viễn thông công cộng cần thiết để tăng cường năng lực dịch vụ và cơ sở hạ tầng và để tăng khả năng tham gia vào thương mại quốc tế về dịch vụ thông tin viễn thông. Những điều kiện như vậy sẽ được quy định chi tiết trong Danh mục của Thành viên.

5. Hợp tác kỹ thuật trong lĩnh vực viễn thông

Theo phụ lục thông tin viễn thông trong hiệp định GATS:

(a) Các Thành viên thừa nhận rằng cơ sở hạ tầng thông tin viễn thông tiên tiến và hiệu quả ở các nước, đặc biệt là những nước đang phát triển, là nền tảng để mở rộng các ngành thương mại dịch vụ của họ. Nhằm mục tiêu đó, Các Thành viên chấp thuận và khuyến khích sự tham gia đến mức tối đa có thể của những nước phát triển và đang phát triển và của các nhà cung cấp dịch vụ và mạng vận chuyển thông tin viễn thông công cộng và các pháp nhân khác vào các chương trình của các tổ chức quốc tế và khu vực, kể cả Liên hiệp thông tin viễn thông quốc tế, Chương trình phát triển của Liên hợp quốc, và Ngân hàng quốc tế về tái thiết và phát triển.

(b) Các Thành viên sẽ khuyến khích và hỗ trợ sự hợp tác về thông tin viễn thông giữa các nước đang phát triển ở quy mô quốc tế, khu vực và tiểu khu vực.

(c) Trong hợp tác với các tổ chức quốc tế liên quan, trong trường hợp có thể , các Thành viên luôn dành cho các nước đang phát triển những thông tin về dịch vụ thông tin viễn thông và sự phát triển trong thông tin viễn thông và công nghệ thông tin viễn thông để giúp họ củng cố khu vực dịch vụ thông tin viễn thông trong nước.

(d) Các Thành viên đặc biệt xem xét những cơ hội cho các nước chậm phát triển nhất nhằm khuyến khích các nhà cung cấp dịch vụ thông tin viễn thông nước ngoài hỗ trợ việc chuyển giao công nghệ, đào tạo và các hoạt động khác hỗ trợ cho sự phát triển hạ tầng cơ sở thông tin viễn thông và mở rộng thương mại dịch vụ thông tin viễn thông của họ.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)