1. Nghĩa vụ của chủ Bằng bảo hộ giống cây trồng

Theo Khoản 5 và Khoản 24 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2022, đã được ban hành để điều chỉnh và bảo vệ quyền về giống cây trồng và quyền đối với giống cây trồng, đều là một phần cơ bản trong việc thúc đẩy sự phát triển và đổi mới trong lĩnh vực nông nghiệp và ngành công nghiệp liên quan.

- Quyền đối với giống cây trồng:

Quyền này đối với giống cây trồng đã được quy định và rõ ràng, là quyền của tổ chức hoặc cá nhân đối với giống cây trồng mới do họ chọn tạo, phát hiện và phát triển hoặc được hưởng quyền sở hữu. Điều này đảm bảo rằng người tạo ra hoặc phát triển giống cây trồng mới có quyền kiểm soát và tận hưởng lợi ích từ công trình sáng tạo của mình, đồng thời cũng khuyến khích sự đầu tư và nghiên cứu khoa học trong việc tạo ra những giống cây trồng tiên tiến hơn, chất lượng cao hơn và tiềm năng phát triển bền vững.

- Định nghĩa về giống cây trồng:

Giống cây trồng được xác định là một quần thể cây trồng thuộc cùng một cấp phân loại thực vật thấp nhất. Điều này giúp định rõ phạm vi của mỗi giống cây trồng và tạo điều kiện thuận lợi cho việc nhận diện và phân biệt giữa các loại cây trồng khác nhau. Hơn nữa, giống cây trồng cũng được đảm bảo ổn định qua các chu kỳ nhân giống, có thể nhận biết được bằng sự biểu hiện các tính trạng do kiểu gen hoặc sự phối hợp của các kiểu gen quy định. Điều này giúp đảm bảo tính nhất quán và đáng tin cậy trong việc đánh giá và sử dụng giống cây trồng.

Theo Điều 191 của Luật Sở hữu trí tuệ 2022, quy định về nghĩa vụ của chủ bằng bảo hộ giống cây trồng bao gồm các điều sau:

(1) Trả thù lao cho tác giả giống cây trồng:

Chủ Bằng bảo hộ giống cây trồng có nghĩa vụ trả thù lao cho tác giả giống cây trồng theo thỏa thuận. Trường hợp không có thỏa thuận, mức thù lao sẽ được quy định như sau:

- Khoản 1: Chủ Bằng bảo hộ giống cây trồng sẽ trả 10% lợi nhuận trước thuế mà họ thu được do sử dụng giống cây trồng được bảo hộ để sản xuất, kinh doanh.

- Khoản 2: Chủ Bằng bảo hộ giống cây trồng sẽ trả 15% tổng số tiền mà họ nhận được trong mỗi lần nhận tiền thanh toán do chuyển giao quyền sử dụng giống cây trồng trước khi nộp thuế theo quy định.

- Khoản 3: Chủ Bằng bảo hộ giống cây trồng sẽ trả 35% tổng số tiền mà họ nhận được từ việc chuyển nhượng quyền đối với giống cây trồng trong lần đầu tiên trước khi nộp thuế theo quy định. Đồng thời, không được nhận thù lao đối với lần chuyển nhượng tiếp theo và thù lao theo quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản 1 Điều 191 Luật Sở hữu trí tuệ 2022.

(2) Đối với giống cây trồng là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước:

Trường hợp giống cây trồng là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước, chủ Bằng bảo hộ giống cây trồng sẽ trả thù lao cho tác giả theo quy định sau đây:

- Khoản 1: Tối thiểu 10% và tối đa 15% lợi nhuận trước thuế mà họ thu được do sử dụng giống cây trồng được bảo hộ để sản xuất, kinh doanh.

- Khoản 2: Tối thiểu 15% và tối đa 20% tổng số tiền mà họ nhận được trong mỗi lần nhận tiền thanh toán do chuyển giao quyền sử dụng giống cây trồng trước khi nộp thuế theo quy định.

- Khoản 3: Tối thiểu 20% và tối đa 35% tổng số tiền mà họ nhận được từ việc chuyển nhượng quyền đối với giống cây trồng trong lần đầu tiên trước khi nộp thuế theo quy định. Đồng thời, không được nhận thù lao đối với lần chuyển nhượng tiếp theo và thù lao theo quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản 2 Điều 191 Luật Sở hữu trí tuệ 2022.

(3) Giống cây trồng có đồng tác giả:

Trong trường hợp giống cây trồng có đồng tác giả, mức thù lao quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 191 Luật Sở hữu trí tuệ 2022 áp dụng cho tất cả các đồng tác giả. Các đồng tác giả sẽ tự thỏa thuận việc phân chia số tiền thù lao do chủ Bằng bảo hộ giống cây trồng chi trả.

(4) Thời hạn và nghĩa vụ duy trì:

Nghĩa vụ trả thù lao cho tác giả tồn tại trong suốt thời hạn bảo hộ giống cây trồng. Chủ Bằng bảo hộ giống cây trồng cũng phải nộp lệ phí duy trì hiệu lực Bằng bảo hộ giống cây trồng cho cơ quan bảo hộ giống cây trồng trong thời hạn ba tháng sau ngày cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng đối với năm hiệu lực đầu tiên và trong tháng đầu tiên của năm hiệu lực tiếp theo đối với các năm sau. Ngoài ra, chủ Bằng bảo hộ giống cây trồng còn có trách nhiệm lưu giữ giống cây trồng được bảo hộ, cung cấp thông tin và vật liệu nhân giống của giống cây trồng được bảo hộ theo yêu cầu của cơ quan bảo hộ giống cây trồng và duy trì tính ổn định của giống cây trồng được bảo hộ theo tính trạng mô tả tại thời điểm cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng.

 

2. Hiệu lực của Bằng bảo hộ giống cây trồng là bao nhiêu năm?

Căn cứ vào quy định tại Điều 169 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, các điểm k khoản 82 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022 đã thay thế và điều chỉnh về hiệu lực của Bằng bảo hộ giống cây trồng như sau:

- Hiệu lực của Bằng bảo hộ giống cây trồng: Bằng bảo hộ giống cây trồng có hiệu lực trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

- Thời hạn hiệu lực Bằng bảo hộ giống cây trồng:

+ Bằng bảo hộ giống cây trồng có hiệu lực kể từ ngày cấp đến hết 25 năm đối với giống cây thân gỗ và cây leo thân gỗ.

+ Bằng bảo hộ giống cây trồng có hiệu lực kể từ ngày cấp đến hết 20 năm đối với các giống cây trồng khác.

- Huỷ bỏ hiệu lực Bằng bảo hộ giống cây trồng: Bằng bảo hộ giống cây trồng có thể bị đình chỉ hoặc huỷ bỏ hiệu lực theo quy định tại Điều 170 và Điều 171 của Luật này.

Tóm tắt lại, hiệu lực của Bằng bảo hộ giống cây trồng là 25 năm đối với giống cây thân gỗ và cây leo thân gỗ, và 20 năm đối với các giống cây khác.

Theo quy định tại Điều 171 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, được sửa đổi bởi khoản 68 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022, Bằng bảo hộ giống cây trồng có thể bị hủy bỏ hiệu lực trong các trường hợp sau:

- Hủy bỏ hiệu lực Bằng bảo hộ giống cây trồng xảy ra trong các trường hợp sau đây:

+ Đơn đăng ký bảo hộ giống cây trồng do người không có quyền đăng ký thực hiện việc đăng ký;

+ Giống cây trồng được bảo hộ không đáp ứng các điều kiện về tính mới hoặc tính khác biệt tại thời điểm cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng;

+ Giống cây trồng không đáp ứng các điều kiện về tính đồng nhất hoặc tính ổn định trong trường hợp Bằng bảo hộ giống cây trồng được cấp dựa trên kết quả khảo nghiệm kỹ thuật do người đăng ký thực hiện.

- Trong thời hạn hiệu lực của Bằng bảo hộ giống cây trồng, mọi tổ chức và cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng hủy bỏ hiệu lực Bằng bảo hộ giống cây trồng.

Cơ quan quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng sẽ căn cứ vào kết quả xem xét đơn yêu cầu huỷ bỏ hiệu lực Bằng bảo hộ giống cây trồng và ý kiến của các bên liên quan để ra thông báo từ chối hoặc quyết định huỷ bỏ hiệu lực Bằng bảo hộ giống cây trồng.

- Trong trường hợp Bằng bảo hộ giống cây trồng bị huỷ bỏ, mọi giao dịch phát sinh trên cơ sở giống cây trồng đã được cấp Bằng bảo hộ sẽ bị vô hiệu. Việc xử lý giao dịch vô hiệu sẽ được thực hiện theo quy định của Bộ luật dân sự.

Tóm tắt lại, bằng bảo hộ giống cây trồng bị hủy bỏ hiệu lực trong các trường hợp sau:

- Đơn đăng ký do người không có quyền đăng ký thực hiện việc đăng ký;

- Giống cây trồng được bảo hộ không đáp ứng các điều kiện tại thời điểm cấp Bằng bảo hộ;

- Giống cây trồng không đáp ứng các điều kiện về tính đồng nhất hoặc tính ổn định trong trường hợp Bằng bảo hộ giống cây trồng được cấp dựa trên kết quả khảo nghiệm kỹ thuật do người đăng ký thực hiện.

 

3. Sử dụng Bằng bảo hộ giống cây trồng đã hết hiệu lực bị phạt bao nhiêu tiền?

Căn cứ vào Nghị định 31/2023/NĐ-CP về vi phạm hành chính trong lĩnh vực Trồng trọt, các hành vi vi phạm nghĩa vụ của chủ Bằng bảo hộ và tác giả giống cây trồng sẽ bị xử phạt như sau:

- Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng cho mỗi hành vi sau đây:

+ Chủ Bằng bảo hộ giống cây trồng không thực hiện việc chuyển giao quyền sử dụng giống cây trồng đã được bảo hộ theo quyết định bắt buộc chuyển giao của cơ quan có thẩm quyền.

+ Chủ Bằng bảo hộ giống cây trồng không trả thù lao cho tác giả giống cây trồng theo quy định.

+ Chủ Bằng bảo hộ không đáp ứng được điều kiện về tính khác biệt, tính đồng nhất, tính ổn định của giống cây trồng được bảo hộ như tại thời điểm cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng, nhưng vẫn khai thác, sử dụng vật liệu nhân giống.

+ Tác giả giống cây trồng không thực hiện đúng nghĩa vụ giúp chủ Bằng bảo hộ duy trì vật liệu nhân giống của giống cây trồng được bảo hộ.

- Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng Bằng bảo hộ giống cây trồng đã hết hiệu lực, bị đình chỉ hoặc hủy bỏ hiệu lực để thực hiện quyền đối với giống cây trồng.

Các mức phạt tiền đã nêu trên được xác định căn cứ vào Điều 5 Nghị định 31/2023/NĐ-CP về mức xử phạt và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Trồng trọt. Đối với các cá nhân vi phạm, mức phạt tiền dao động từ 15 triệu đồng đến 25 triệu đồng, trong khi đối với các tổ chức vi phạm, mức phạt tiền từ 40 triệu đồng đến 60 triệu đồng.

Như vậy, theo Nghị định 31/2023/NĐ-CP, vi phạm sử dụng Bằng bảo hộ giống cây trồng đã hết hiệu lực sẽ bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng. Điều này giúp đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong việc xử phạt các hành vi vi phạm hành chính liên quan đến Trồng trọt.

Bài viết liên quan: Sửa đổi, cấp lại Bằng bảo hộ giống cây trồng được quy định như thế nào? 

Mời quý khách hàng liên hệ với Luật Minh Khuê qua số hotline: 1900.6162 hoặc qua email: lienhe@luatminhkhue.vn nếu như còn vướng mắc nào về mặt pháp lý. Xin trân trọng cảm ơn!