Trong nền kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế, quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) là tài sản vô hình quan trọng, quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và quốc gia. Nhà nước thông qua pháp luật trao cho chủ sở hữu quyền độc quyền khai thác các đối tượng sở hữu công nghiệp trong một thời hạn và phạm vi nhất định, đồng thời thiết lập cơ chế chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ để đảm bảo cân bằng giữa lợi ích riêng và lợi ích chung. Điều 95 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định chi tiết về vấn đề này, cho phép thu hồi quyền khi điều kiện duy trì không còn hoặc khi việc duy trì quyền gây phương hại đến lợi ích công cộng, người tiêu dùng, hoặc cản trở thương mại lành mạnh. 

1. Căn cứ pháp luật điều chỉnh chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ

Luật Sở hữu trí tuệ được sửa đổi, bổ sung năm 2025 (LSHTT): Đây là cơ sở pháp lý cao nhất, trong đó Điều 95 quy định các căn cứ vật chất để chấm dứt hiệu lực. Để thuận tiện cho việc tra cứu và áp dụng thống nhất, các nội dung sửa đổi qua các thời kỳ (bao gồm Luật sửa đổi năm 2009, 2019 và 2022, 2025) hiện được tập hợp trong Văn bản hợp nhất số 155/VBHN-VPQH Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2025 do Văn phòng Quốc hội ban hành. Nghị định số 65/2023/NĐ-CP ngày 23/8/2023 của Chính phủ: Nghị định này quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp. Nghị định 65 đóng vai trò quan trọng trong việc quy định trình tự, thủ tục, biểu mẫu và thẩm quyền xử lý đơn yêu cầu chấm dứt hiệu lực.

Thông tư số 23/2023/TT-BKHCN ngày 30/11/2023 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ: Thông tư hướng dẫn chi tiết các vấn đề kỹ thuật nghiệp vụ, quy trình thẩm định nội dung đơn yêu cầu chấm dứt, cũng như các biểu mẫu liên quan đến hoạt động quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ. Các điều ước quốc tế: Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương và Hiệp định Thương mại Tự do giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu. Các hiệp định này đặt ra các chuẩn mực cao hơn về nghĩa vụ sử dụng nhãn hiệu và các căn cứ chấm dứt, buộc pháp luật quốc gia phải tuân thủ.

2. Các trường hợp chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ mới nhất  

Luật Sở hữu trí tuệ đã được sửa đổi, bổ sung và hợp nhất năm 2025 quy định chi tiết các căn cứ chấm dứt hiệu lực tại Điều 95, giải quyết các vấn đề thực tiễn trong nền kinh tế số và ngăn chặn cạnh tranh không lành mạnh. Văn bằng bảo hộ bị chấm dứt toàn bộ hoặc một phần hiệu lực trong các trường hợp sau đây:

2.1. Nhóm căn cứ hành chính và tự nguyện  

Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 95 LSHTT quy định:

a) Chủ văn bằng bảo hộ không nộp phí, lệ phí để duy trì hiệu lực hoặc gia hạn hiệu lực theo quy định;

b) Chủ văn bằng bảo hộ tuyên bố từ bỏ quyền sở hữu công nghiệp;

c) Chủ văn bằng bảo hộ không còn tồn tại hoặc chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu không còn hoạt động kinh doanh mà không có người kế thừa hợp pháp;" 

Các trường hợp chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ chủ yếu gồm những tình huống mang tính chất tự động hoặc do ý chí chủ quan của chủ sở hữu, chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số văn bằng bị chấm dứt mỗi năm. Cơ chế này vừa phản ánh bản chất có thời hạn của quyền sở hữu công nghiệp, vừa đảm bảo cân bằng giữa lợi ích của chủ sở hữu và lợi ích công cộng.

Không nộp phí, lệ phí duy trì hoặc gia hạn: Quyền sở hữu công nghiệp là tài sản có thời hạn và việc nộp phí duy trì hoặc gia hạn là nghĩa vụ bắt buộc để bảo đảm quyền độc quyền. Cụ thể, hiệu lực của sáng chế được duy trì hàng năm, trong khi nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp có thể gia hạn mỗi 10 năm hoặc 5 năm tương ứng.

Nghị định 65/2023/NĐ-CP và Thông tư 23/2023/TT-BKHCN quy định chi tiết về thời gian ân hạn (thường là 6 tháng sau ngày hết hạn) và mức phí phạt nộp muộn. Nếu quá thời hạn này mà phí chưa được nộp, văn bằng sẽ tự động chấm dứt hiệu lực kể từ ngày bắt đầu kỳ hiệu lực tiếp theo chưa được thanh toán.

Chủ văn bằng tuyên bố từ bỏ quyền: Chủ sở hữu có quyền định đoạt tài sản, bao gồm quyền từ bỏ quyền sở hữu công nghiệp. Tuy nhiên, quyền này không tuyệt đối nếu văn bằng đang là đối tượng của quyền lợi bên thứ ba, chẳng hạn như đang thế chấp ngân hàng hoặc đang được li-xăng độc quyền. Trong những trường hợp này, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ xem xét các yếu tố liên quan trước khi ra quyết định chấm dứt hiệu lực, nhằm bảo vệ an toàn pháp lý cho các giao dịch liên quan.

Chủ văn bằng không còn tồn tại hoặc không còn hoạt động kinh doanh: Trường hợp này áp dụng khi chủ sở hữu là cá nhân đã qua đời hoặc pháp nhân đã giải thể, phá sản mà không có người thừa kế hợp pháp. Đây là căn cứ quan trọng để xử lý tình trạng “tài sản vô chủ” trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Trong thực tiễn, nhiều vụ việc tranh chấp xảy ra khi bên thứ ba lợi dụng căn cứ này để đăng ký nhãn hiệu mới. Việc chứng minh doanh nghiệp không còn hoạt động kinh doanh trong khi chưa hoàn tất thủ tục giải thể chính thức là thách thức, đòi hỏi bằng chứng từ cơ quan thuế hoặc cơ quan đăng ký kinh doanh.

2.2. Nhóm căn cứ liên quan đến nghĩa vụ sử dụng nhãn hiệu  

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 95 LSHTT quy định Đây là quy định gây tranh cãi và phức tạp nhất, được hoàn thiện để tương thích với các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới: "Nhãn hiệu không được chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu cho phép sử dụng trong thời hạn năm năm liên tục trước ngày có yêu cầu chấm dứt hiệu lực mà không có lý do chính đáng, trừ trường hợp việc sử dụng được bắt đầu hoặc bắt đầu lại trước ít nhất ba tháng tính đến ngày có yêu cầu chấm dứt hiệu lực;" 

Văn bằng bảo hộ nhãn hiệu bị chấm dứt nếu nhãn hiệu không được chủ sở hữu hoặc người được cho phép sử dụng trong thời hạn 05 năm liên tục trước ngày có yêu cầu chấm dứt hiệu lực mà không có lý do chính đáng.

Khái niệm "sử dụng" đòi hỏi phải là việc đưa hàng hóa/dịch vụ ra thị trường thương mại thực tế nhằm mục đích tạo lập hoặc duy trì thị phần. Việc chỉ quảng cáo mà không bán hàng, hoặc chỉ bán nội bộ một số lượng không đáng kể, có thể bị coi là không sử dụng.Luật quy định nếu việc sử dụng được bắt đầu lại ít nhất 03 tháng trước ngày có yêu cầu chấm dứt, thì yêu cầu đó sẽ bị bác bỏ.

Quy định này nhằm ngăn chặn việc chủ sở hữu "đối phó" vội vàng khi biết tin sắp bị kiện (nếu việc sử dụng lại diễn ra sau khi biết tin có yêu cầu chấm dứt thì không được tính). Chủ sở hữu có thể viện dẫn các lý do bất khả kháng (thiên tai, chiến tranh, quy định cấm nhập khẩu, rào cản pháp lý) để biện minh cho việc không sử dụng. Tuy nhiên, các lý do về khó khăn tài chính hay chiến lược kinh doanh thông thường không được chấp nhận.

2.3. Nhóm căn cứ bảo vệ lợi ích công cộng 

Luật hiện hành tiếp tục duy trì và củng cố hai căn cứ quan trọng nhằm bảo vệ trật tự công cộng và quyền lợi người tiêu dùng.

Sử dụng nhãn hiệu gây hiểu sai lệch tại điểm h khoản 1 Điều 95 LSHTT: "Việc sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ bởi chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc người được chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép làm cho người tiêu dùng hiểu sai lệch về bản chất, chất lượng hoặc nguồn gốc địa lý của hàng hóa hoặc dịch vụ đó;" 

Văn bằng bị chấm dứt nếu việc sử dụng nhãn hiệu bởi chủ sở hữu (hoặc người được cho phép) làm cho người tiêu dùng hiểu sai lệch về bản chất, chất lượng hoặc nguồn gốc địa lý của hàng hóa, dịch vụ. Luật kiểm soát cả quá trình sử dụng sau khi cấp bằng. Ví dụ: Nhãn hiệu chứa từ "Silk" (lụa) được cấp cho sản phẩm lụa tơ tằm. Sau đó, chủ sở hữu chuyển sang sản xuất vải tổng hợp nhưng vẫn dùng nhãn hiệu đó. Hành vi này làm người tiêu dùng tin rằng họ đang mua lụa thật. Văn bằng sẽ bị chấm dứt để bảo vệ người tiêu dùng, buộc chủ sở hữu phải trung thực trong kinh doanh.

Nhãn hiệu trở thành tên gọi thông thường tại điểm i khoản 1 Điều 95 LSHTT: "Nhãn hiệu được bảo hộ trở thành tên gọi thông thường của hàng hóa, dịch vụ đăng ký cho chính nhãn hiệu đó;" 

Văn bằng bị chấm dứt nếu nhãn hiệu được bảo hộ trở thành tên gọi thông thường của hàng hóa, dịch vụ đăng ký cho chính nhãn hiệu đó. Đây là hiện tượng "nạn nhân của sự thành công". Khi một nhãn hiệu quá phổ biến (như "Honda" ở Việt Nam thường dùng để chỉ xe máy nói chung), nó mất đi chức năng phân biệt của nhãn hiệu. Quy định này cho phép chấm dứt quyền độc quyền để trả lại tên gọi đó cho cộng đồng (public domain), đảm bảo các đối thủ cạnh tranh có thể sử dụng từ ngữ đó để mô tả sản phẩm của họ.

2.4. Các trường hợp chấm dứt hiệu lực đặc thù khác

Căn cứ điểm đ, khoản 1 Điều 95 LSHTT: "Chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đối với nhãn hiệu tập thể không kiểm soát hoặc kiểm soát không có hiệu quả việc thực hiện quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể;" 

Căn cứ điểm e, khoản 1 Điều 95 LSHTT: "Chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đối với nhãn hiệu chứng nhận vi phạm quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận hoặc không kiểm soát, kiểm soát không có hiệu quả việc thực hiện quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận;" 

Như vậy, nhãn hiệu tập thể/chứng nhận (Điểm đ, e): Chủ sở hữu không kiểm soát hoặc kiểm soát không hiệu quả việc thực hiện quy chế sử dụng. Quy định này nhấn mạnh vai trò "quản trị" của chủ sở hữu đối với các nhãn hiệu dùng chung, đảm bảo chất lượng đồng nhất cho người tiêu dùng.

Căn cứ điểm g, khoản 1 Điều 95 LSHTT: "Các điều kiện địa lý tạo nên danh tiếng, chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý bị thay đổi làm mất danh tiếng, chất lượng, đặc tính của sản phẩm đó;" 

Căn cứ điểm k, khoản 1 Điều 95 LSHTT: "Chỉ dẫn địa lý của nước ngoài không còn được bảo hộ tại nước xuất xứ." 

Chỉ dẫn địa lý (Điểm g, k): Điều kiện địa lý là yếu tố tạo nên danh tiếng, chất lượng và các đặc tính riêng biệt của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý. Khi các điều kiện này bị thay đổi làm cho sản phẩm không còn giữ được những đặc trưng vốn có, danh tiếng và chất lượng của sản phẩm sẽ không được duy trì, dẫn đến việc chỉ dẫn địa lý không còn đáp ứng tiêu chí bảo hộ.

Bên cạnh đó, theo điểm k khoản 1 Điều 95 Luật Sở hữu trí tuệ, một chỉ dẫn địa lý nước ngoài sẽ chấm dứt hiệu lực bảo hộ tại Việt Nam nếu nó không còn được bảo hộ tại nước xuất xứ. Quy định này đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống bảo hộ chỉ dẫn địa lý, đồng thời ngăn ngừa việc bảo hộ một chỉ dẫn địa lý không còn giá trị pháp lý ở chính nơi sản sinh ra sản phẩm.

3. Các trường hợp chấm dứt hiệu lực khác 

3.1. Trường hợp chủ sở hữu không nộp phí, lệ phí duy trì 

Căn cứ khoản 2 Điều 95 LSHTT quy định: "Trong trường hợp chủ Bằng độc quyền sáng chế, Bằng độc quyền giải pháp hữu ích không nộp phí, lệ phí để duy trì hiệu lực trong thời hạn quy định thì khi kết thúc thời hạn đó, hiệu lực văn bằng bảo hộ tự động chấm dứt kể từ ngày bắt đầu năm hiệu lực đầu tiên mà phí, lệ phí để duy trì hiệu lực không được nộp.

Trong trường hợp chủ văn bằng bảo hộ nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp không nộp phí, lệ phí để gia hạn hiệu lực trong thời hạn quy định thì khi kết thúc thời hạn đó, hiệu lực văn bằng bảo hộ tự động chấm dứt kể từ ngày bắt đầu kỳ hiệu lực tiếp theo mà phí, lệ phí để gia hạn hiệu lực không được nộp.

Cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp ghi nhận việc chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ vào Sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp và công bố trên Công báo sở hữu công nghiệp." 

Khi chủ sở hữu Bằng độc quyền sáng chế hoặc Bằng độc quyền giải pháp hữu ích không nộp phí, lệ phí duy trì hiệu lực đúng thời hạn, thì đến khi thời hạn này kết thúc, văn bằng bảo hộ sẽ tự động chấm dứt hiệu lực tính từ ngày bắt đầu năm hiệu lực đầu tiên mà khoản phí duy trì không được nộp; tương tự, nếu chủ văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hoặc kiểu dáng công nghiệp không nộp phí gia hạn trong thời hạn quy định, văn bằng cũng tự động mất hiệu lực kể từ ngày bắt đầu kỳ hiệu lực tiếp theo mà phí gia hạn không được nộp.

Việc chấm dứt hiệu lực này sẽ được cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp ghi nhận vào Sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp và công bố trên Công báo sở hữu công nghiệp.

3.2. Trường hợp tuyên bố từ bỏ quyền sở hữu, tổ chức cá nhân có quyền yêu cầu chấm dứt 

Căn cứ khoản 3, khoản 4 Điều 95 LSHTT sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định: "Trong trường hợp chủ văn bằng bảo hộ tuyên bố từ bỏ quyền sở hữu công nghiệp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này thì cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp xem xét, quyết định chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ.

Tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ đối với trường hợp quy định tại các điểm c, d, đ, e, g, h, i và k khoản 1 Điều này với điều kiện phải nộp phí, lệ phí." 

Trong trường hợp chủ văn bằng bảo hộ tự nguyện tuyên bố từ bỏ quyền sở hữu công nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp sẽ có trách nhiệm xem xét tính hợp lệ của việc từ bỏ và ra quyết định chấm dứt hiệu lực văn bằng, bảo đảm rằng quyền sở hữu công nghiệp được điều chỉnh theo đúng ý chí của chủ sở hữu và phù hợp với quy định pháp luật.

Đồng thời, đối với các trường hợp chấm dứt hiệu lực theo quy định tại các điểm c, d, đ, e, g, h, i và k khoản 1 Điều 95 LSHTT bao gồm những tình huống như không còn đáp ứng điều kiện bảo hộ, sử dụng sai lệch, vi phạm nghĩa vụ hoặc chỉ dẫn địa lý nước ngoài không còn được bảo hộ tại nước xuất xứ tổ chức, cá nhân liên quan có quyền chủ động yêu cầu cơ quan nhà nước xem xét và quyết định chấm dứt hiệu lực văn bằng.

Tuy nhiên, để yêu cầu được chấp nhận, người nộp đơn phải thực hiện nghĩa vụ nộp đầy đủ phí và lệ phí theo quy định, qua đó bảo đảm tính minh bạch, trách nhiệm và trật tự pháp lý trong quá trình quản lý quyền sở hữu công nghiệp.

3.3. Ra quyết định chấm dứt 

Căn cứ khoản 5, khoản 6, khoản 7 Điều 95 LSHTT quy định việc chấm dứt được thực hiện, thời gian chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ như sau: 

"Căn cứ kết quả xem xét đơn yêu cầu chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ đối với các trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều này, ý kiến của các bên liên quan, cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp thông báo từ chối chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ hoặc quyết định chấm dứt toàn bộ hoặc một phần hiệu lực văn bằng bảo hộ.

Đối với trường hợp quy định tại các điểm c, d, đ, e, g, h và i khoản 1 Điều này, hiệu lực văn bằng bảo hộ bị chấm dứt kể từ ngày cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp ban hành quyết định chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ.

Đối với trường hợp quy định tại điểm k khoản 1 Điều này, hiệu lực văn bằng bảo hộ bị chấm dứt kể từ ngày chỉ dẫn địa lý không còn được bảo hộ tại nước xuất xứ.

Đối với trường hợp cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp ra quyết định chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ theo quy định tại khoản 3 Điều này, hiệu lực văn bằng bảo hộ bị chấm dứt kể từ ngày cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp nhận được tuyên bố bằng văn bản của chủ văn bằng bảo hộ.

Quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 6 Điều này cũng được áp dụng đối với việc chấm dứt hiệu lực đăng ký quốc tế đối với nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp." 

Như việc chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ có thể xuất phát từ ý chí tự nguyện của chủ sở hữu hoặc yêu cầu của tổ chức, cá nhân trong các trường hợp pháp luật quy định, với điều kiện hoàn thành nghĩa vụ phí và lệ phí. Cơ quan quản lý nhà nước đóng vai trò thẩm định và quyết định nhằm bảo đảm quá trình chấm dứt diễn ra minh bạch, đúng pháp luật và phù hợp với thực tiễn quản lý quyền sở hữu công nghiệp.

4. Kết luận

Tóm lại, Điều 95 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định rõ các trường hợp văn bằng bảo hộ bị chấm dứt hiệu lực, bao gồm việc không nộp phí duy trì hoặc gia hạn, chủ sở hữu từ bỏ quyền, chủ thể không còn tồn tại, nhãn hiệu không được sử dụng, vi phạm quy chế sử dụng, điều kiện địa lý thay đổi, nhãn hiệu gây hiểu sai lệch hoặc trở thành tên gọi chung, và chỉ dẫn địa lý nước ngoài không còn được bảo hộ. Việc chấm dứt có thể xảy ra tự động hoặc theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân có liên quan, đồng thời cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm xem xét, ra quyết định và ghi nhận vào Sổ đăng ký quốc gia. Quy định này bảo đảm việc duy trì hiệu lực văn bằng bảo hộ được thực hiện minh bạch, chính xác và phù hợp với thực tế quản lý quyền sở hữu công nghiệp.

Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vự sở hữu trí tuệ bạn có thể sử dụng: Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật qua email hay Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật sở hữu trí tuệ trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi: 1900.6162, hoặc có thể Đặt lịch để gặp luật sư tư vấn trực tiếp tại văn phòng. Đội ngũ luật sư của Công ty luật Minh Khuê luôn sẵn sàng hỗ trợ./.