- 1. Cơ sở pháp lý và phạm vi xâm phạm quyền nhãn hiệu
- 2. Sử dụng trái phép logo, nhãn hiệu của công ty khác bị phạt thế nào?
- 2.1. Các mức phạt tiền
- 2.2. Các hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả
- 2.3. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
- 3. Trách nhiệm và việc yêu cầu bồi thường thiệt hại
- Tổng kết
Hành vi sử dụng trái phép nhãn hiệu (logo) tại Việt Nam được xem là xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và có thể bị xử lý theo ba cơ chế pháp lý độc lập: hành chính, dân sự và hình sự, dựa trên các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ (Văn bản hợp nhất số 155/VBHN-VPQH) và Nghị định số 99/2023/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp. Biện pháp hành chính nổi bật nhờ tốc độ và khả năng áp dụng các biện pháp cưỡng chế như phạt tiền, tịch thu tang vật, buộc tiêu hủy hàng hóa, nhưng không bảo đảm bồi thường thiệt hại trực tiếp cho chủ sở hữu quyền. Biện pháp dân sự là công cụ duy nhất cho phép chủ sở hữu đòi bồi thường thiệt hại thực tế, trong khi biện pháp hình sự chỉ áp dụng với các hành vi nghiêm trọng, đạt ngưỡng thương mại đáng kể về lợi ích bất chính, giá trị hàng hóa vi phạm hoặc mức độ thiệt hại. Việc lựa chọn chiến lược xử lý cần dựa trên mục tiêu ưu tiên của chủ sở hữu nhãn hiệu, giữa việc ngăn chặn và loại bỏ hàng giả nhanh chóng trên thị trường hay thu hồi thiệt hại tài chính do hành vi xâm phạm gây ra.
1. Cơ sở pháp lý và phạm vi xâm phạm quyền nhãn hiệu
Hệ thống pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) nói chung và quyền đối với nhãn hiệu nói riêng, nhằm mục tiêu thúc đẩy sáng tạo, đổi mới kỹ thuật, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh và bảo vệ lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng. Khung pháp lý nền tảng là Luật Sở hữu trí tuệ, hiện được áp dụng dưới dạng Văn bản hợp nhất số 155/VBHN-VPQH Luật Sở hữu trí tuệ nhằm nâng cao hiệu quả bảo hộ tài sản trí tuệ và thực hiện các nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam theo các điều ước như CPTPP, EVFTA, và RCEP.
Nguyên tắc xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu tại Việt Nam là nguyên tắc đăng ký. Quyền sở hữu chỉ được xác lập trên cơ sở Quyết định cấp Văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền – cụ thể là Cục Sở hữu trí tuệ (Cục SHTT) – theo thủ tục đăng ký quy định, hoặc thông qua việc công nhận đăng ký quốc tế theo hệ thống Madrid. Do đó, việc đăng ký nhãn hiệu không chỉ là bước đầu tiên mà còn là điều kiện tiên quyết để chủ sở hữu có cơ sở pháp lý vững chắc yêu cầu xử lý bất kỳ hành vi sử dụng trái phép nào.
Hành vi sử dụng trái phép nhãn hiệu là hành vi được thực hiện mà không có sự đồng ý hoặc cho phép của chủ sở hữu. Theo Khoản 1 Điều 129 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019, 2022 (LSHTT), hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu được phân loại dựa trên mức độ trùng hoặc tương tự của dấu hiệu và hàng hóa/dịch vụ liên quan.
Thứ nhất, Xâm phạm dấu hiệu trùng cho hàng hóa/dịch vụ trùng (điểm a) khoản 1 Điều 129 LSHTT, Đây là trường hợp xâm phạm rõ ràng nhất: sử dụng dấu hiệu trùng hoàn toàn với nhãn hiệu đã được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoàn toàn với danh mục đã đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó.
Thứ hai, Xâm phạm dấu hiệu tương tự hoặc trùng cho hàng hóa/dịch vụ tương tự/liên quan (điểm b; điểm c) khoản 1 Điều 129 LSHTT. Phần lớn các vụ việc trên thực tế rơi vào nhóm này, đòi hỏi sự phân tích sâu hơn. Hành vi xâm phạm xảy ra khi một bên sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ tương tự hoặc liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký.
Sự đánh giá về "tương tự đến mức gây nhầm lẫn" là trọng tâm của kiện tụng SHTT. Một dấu hiệu bị coi là tương tự đến mức gây nhầm lẫn nếu có một số thành phần hoàn toàn trùng nhau hoặc tương tự đến mức khó phân biệt về cấu tạo, cách phát âm, phiên âm, ý nghĩa, cách trình bày, màu sắc (đối với dấu hiệu nhìn thấy được). Việc sử dụng dấu hiệu này phải có khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ. Không chỉ dừng lại ở sự tương đồng của dấu hiệu, các cơ quan chức năng còn xem xét liệu hàng hóa, dịch vụ mang dấu hiệu bị nghi ngờ có tương tự về bản chất hoặc có liên hệ về chức năng, công dụng, hoặc cùng kênh tiêu thụ với hàng hóa, dịch vụ thuộc phạm vi bảo hộ hay không.
Thứ ba, Xâm phạm nhãn hiệu nổi tiếng (điểm d) khoản 1 Điều 129 LSHTT. Đối với nhãn hiệu nổi tiếng, phạm vi bảo hộ được mở rộng đáng kể. Hành vi sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng, hoặc dấu hiệu dưới dạng dịch nghĩa, phiên âm từ nhãn hiệu nổi tiếng, có thể bị coi là xâm phạm ngay cả khi được sử dụng cho hàng hóa, dịch vụ không trùng, không tương tự và không liên quan. Điều kiện cấu thành là việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sử dụng dấu hiệu đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng.
Để xác định hành vi xâm phạm, chủ thể quyền cần chứng minh đối tượng bị xem xét thuộc phạm vi được bảo hộ, có yếu tố xâm phạm (trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn), và chủ thể thực hiện hành vi không phải là người được phép sử dụng đối tượng đó.
2. Sử dụng trái phép logo, nhãn hiệu của công ty khác bị phạt thế nào?
Biện pháp xử lý hành chính là cơ chế được áp dụng phổ biến nhất để xử lý vi phạm quyền nhãn hiệu tại Việt Nam. Căn cứ pháp lý chính để xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp là Nghị định 99/2023/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định Số: 46/2024/NĐ-CP. Đặc điểm của biện pháp này là việc xử lý hành vi xâm phạm trật tự quản lý kinh tế. Mặc dù biện pháp này có tính răn đe cao và khả năng ngăn chặn nhanh chóng, khoản tiền xử phạt (phạt tiền) sẽ được nộp vào ngân sách nhà nước, do đó chủ thể quyền không được bồi thường thiệt hại trực tiếp thông qua thủ tục này.
2.1. Các mức phạt tiền
Khi xem xét mức phạt, cơ quan chức năng sẽ tập trung vào các dấu hiệu vi phạm rõ ràng như việc sử dụng nhãn hiệu giống hệt hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng, khiến họ nhầm tưởng về nguồn gốc sản phẩm. Căn cứ Điều 11 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 46/2024/NĐ-CP. Hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu bị phạt như sau:
" 1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây vì mục đích kinh doanh trong trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm đến 3.000.000 đồng:
a) Bán; chào hàng; vận chuyển, kể cả quá cảnh; tàng trữ; trưng bày để bán hàng hóa, dịch vụ xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp;
b) Đặt hàng, giao việc, thuê người khác thực hiện hành vi quy định tại Điểm a Khoản này.
2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này trong trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm từ trên 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.
3. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này trong trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm từ trên 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
4. Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này trong trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm từ trên 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
5. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này trong trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm từ trên 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
6. Phạt tiền từ 25.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này trong trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm từ trên 40.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng.
7. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này trong trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm từ trên 70.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.
8. Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này trong trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm từ trên 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng.
9. Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 110.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này trong trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm từ trên 200.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng.
10. Phạt tiền từ 110.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này trong trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm từ trên 300.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng.
11. Phạt tiền từ 150.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này trong trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm từ trên 400.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng.
12. Phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này trong trường hợp giá trị hàng hóa vi phạm trên 500.000.000 đồng.
13. Phạt tiền bằng 1,2 lần mức tiền phạt quy định từ Khoản 1 đến Khoản 12 Điều này nhưng không vượt quá 250.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Thiết kế, chế tạo, gia công, lắp ráp, chế biến, đóng gói hàng hóa mang dấu hiệu xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp;
b) In, dán, đính, đúc, dập khuôn hoặc bằng hình thức khác tem, nhãn, vật phẩm khác mang dấu hiệu xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp, tên thương mại lên hàng hóa;
c) Nhập khẩu hàng hóa mang dấu hiệu xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, kiểu dáng công nghiệp;
d) Đặt hàng, giao việc, thuê người khác thực hiện hành vi quy định tại các Điểm a, b và c Khoản này.
14. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, kiểu dáng công nghiệp quy định tại Khoản 1 và Khoản 13 Điều này trong trường hợp không có căn cứ xác định giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm Bổ sung.
14a. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng kiểu dáng công nghiệp mà không trả tiền đền bù theo quy định về quyền tạm thời quy định tại Điều 131 Luật Sở hữu trí tuệ.
15. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng dấu hiệu xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại trên biển hiệu, giấy tờ giao dịch kinh doanh, phương tiện kinh doanh, phương tiện dịch vụ, bao bì hàng hóa."
Do đó, ức phạt tiền đối với hành vi xâm phạm quyền nhãn hiệu được quy định tùy thuộc vào tính chất, mức độ vi phạm và, quan trọng nhất, là giá trị của hàng hóa vi phạm. Mức phạt tiền áp dụng đối với tổ chức vi phạm thường là gấp đôi mức phạt áp dụng đối với cá nhân cho cùng một hành vi. Mức phạt tiền tối đa đối với tổ chức vi phạm hành chính trong lĩnh vực SHTT có thể lên tới 500.000.000 triệu đồng.
2.2. Các hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả
Các chế tài bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả là công cụ mạnh mẽ nhất của xử lý hành chính, nhằm mục đích loại bỏ hoàn toàn các yếu tố vi phạm trên thị trường.
- Hình thức xử phạt bổ sung (Căn cứ khoản 16, Điều 11 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP) "Đình chỉ hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ vi phạm từ 01 tháng đến 03 tháng đối với hành vi vi phạm quy định từ Khoản 1 đến Khoản 15 Điều này."
- Biện pháp khắc phục hậu quả (Căn cứ khoản 17, Điều 11 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP) gồm:
"a) Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm và tiêu hủy yếu tố vi phạm đối với hành vi vi phạm quy định từ Khoản 1 đến Khoản 15 Điều này;
b) Buộc tiêu hủy tang vật, phương tiện vi phạm nếu không loại bỏ được yếu tố vi phạm; tem, nhãn, bao bì, vật phẩm vi phạm đối với hành vi vi phạm quy định từ Khoản 1 đến Khoản 15 Điều này;
c) Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hàng hóa quá cảnh xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với hành vi vi phạm quy định từ Khoản 1 đến Khoản 12 Điều này;
d) Buộc thay đổi tên doanh nghiệp, loại bỏ yếu tố vi phạm trong tên doanh nghiệp đối với hành vi vi phạm quy định từ Khoản 1 đến Khoản 15 Điều này;
đ) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định từ Khoản 1 đến Khoản 15 Điều này."
2.3. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
Việc xác định đúng cơ quan có thẩm quyền là yếu tố then chốt. Lực lượng Quản lý thị trường (QLTT) có vai trò trung tâm trong xử lý các vi phạm tại thị trường nội địa. QLTT có thẩm quyền xử phạt các hành vi vi phạm trong hoạt động sản xuất, buôn bán, chào hàng, vận chuyển, tàng trữ, trưng bày hàng hóa tại thị trường trong nước. Tổng Cục trưởng Tổng cục QLTT có quyền phạt tiền đến 250 triệu đồng và áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung cùng các biện pháp khắc phục hậu quả. Ngoài ra, các cơ quan khác như Thanh tra Khoa học và Công nghệ, Công an, Hải quan cũng có thẩm quyền xử phạt tùy theo phạm vi quản lý.
Trong quá trình xử lý hành chính, cơ quan thực thi có thể gặp phải rào cản từ phía bên bị cáo buộc vi phạm. Theo quy định, Cơ quan thực thi có thể tạm dừng xử lý vi phạm nếu bên bị cáo buộc nộp Đơn yêu cầu Cục SHTT hủy bỏ hiệu lực nhãn hiệu đã đăng ký (trên cơ sở "dụng ý xấu" hoặc các tranh chấp khác). Các cơ quan thực thi thường rất thận trọng trong các vụ việc phức tạp, đặc biệt là khi có tranh chấp về hiệu lực văn bằng bảo hộ. Sự cẩn trọng này xuất phát từ lo ngại về trách nhiệm bồi thường nhà nước nếu họ vội vàng tịch thu, xử phạt, và tiêu hủy hàng hóa mà sau đó nhãn hiệu của chủ sở hữu bị Tòa án hoặc Cục SHTT hủy bỏ hiệu lực. Tình huống này buộc chủ sở hữu nhãn hiệu phải chuẩn bị hồ sơ pháp lý vững chắc và có chiến lược rõ ràng để đối phó với các thủ tục khiếu nại hoặc hủy bỏ từ phía bên xâm phạm.
3. Trách nhiệm và việc yêu cầu bồi thường thiệt hại
Biện pháp dân sự là cơ chế độc lập với hành chính và hình sự, cho phép chủ sở hữu nhãn hiệu khởi kiện Tòa án yêu cầu chấm dứt hành vi xâm phạm và bồi thường thiệt hại thực tế, bất kể vụ việc đã hoặc đang được xử lý theo các biện pháp khác. Mục tiêu là bảo vệ quyền dân sự, buộc bên vi phạm chịu trách nhiệm cho thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật Dân sự. Để thành công, nguyên đơn phải chứng minh: (i) hành vi xâm phạm nhãn hiệu; (ii) thiệt hại thực tế; và (iii) mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại. Việc định lượng thiệt hại, gồm tổn thất hiện tại và lợi ích bị mất, cũng như chi phí hợp lý để ngăn chặn hoặc khắc phục hậu quả, là thách thức lớn. Luật SHTT (Điều 205) cho phép Tòa án tính bồi thường theo tổng thiệt hại thực tế, lợi nhuận bất chính hoặc tiền bản quyền lẽ ra phải trả; tuy nhiên, nếu nguyên đơn không chứng minh được, yêu cầu có thể bị bác bỏ.
Ngoài ra, Trách nhiệm hình sự theo Điều 226 Bộ luật Hình sự Việt Nam 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất đối với hành vi xâm phạm nhãn hiệu, chỉ áp dụng khi hành vi có tính chất cố ý và đạt ngưỡng “quy mô thương mại”. Ngưỡng này được xác định dựa trên thu lợi bất chính, thiệt hại gây ra cho chủ sở hữu hoặc giá trị hàng hóa vi phạm, với các khung định lượng cơ bản và tăng nặng tùy theo mức độ tổ chức, lặp lại hoặc quy mô vi phạm. Hình phạt đối với cá nhân bao gồm phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù, kèm theo các biện pháp bổ sung như cấm đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc tịch thu tài sản; đối với pháp nhân thương mại, chế tài nghiêm khắc hơn với phạt tiền từ hàng trăm triệu đến vài tỷ đồng, đình chỉ hoạt động kinh doanh và cấm huy động vốn. Ngưỡng định lượng cao tạo ra rào cản thực tiễn đối với xử lý hình sự các vụ việc quy mô nhỏ, đồng thời yêu cầu chủ sở hữu nhãn hiệu phải lập hồ sơ chi tiết để chứng minh lợi nhuận bất chính, thiệt hại hoặc giá trị hàng hóa nhằm đáp ứng điều kiện truy cứu hình sự.
Tổng kết
Hệ thống pháp luật Việt Nam bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là nhãn hiệu, theo nguyên tắc đăng ký, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để chủ sở hữu yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm. Hành vi sử dụng trái phép nhãn hiệu được phân loại theo mức độ trùng hoặc tương tự, bao gồm nhãn hiệu trùng, tương tự gây nhầm lẫn và nhãn hiệu nổi tiếng. Vi phạm có thể bị xử lý theo ba cơ chế độc lập: hành chính (phạt tiền, tịch thu, buộc tiêu hủy, đình chỉ hoạt động), dân sự (yêu cầu chấm dứt hành vi và bồi thường thiệt hại thực tế) và hình sự (áp dụng khi hành vi cố ý, đạt ngưỡng “quy mô thương mại” với hình phạt nghiêm khắc cho cá nhân và pháp nhân). Cơ chế này vừa răn đe toàn diện, vừa bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho chủ sở hữu nhãn hiệu.
Mọi vướng mắc pháp lý vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162 để được đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm của Công ty luật Minh Khuê tư vấn, giải đáp chi tiết.Chúng tôi rất hân hạnh khi nhận được sự hợp tác của quý khách hàng. Xin chân thành cảm ơn!