Sự gắn bó, tình cảm yêu thương của cha mẹ có thể giúp trẻ vượt qua được bệnh tật và phát triển tâm lý tốt

Khái niệm “gắn bó được đưa ra vào đầu những năm 70 của thế kỉ XX bởi các nhà tâm lí học Mỹ là J.Bowly và M. Ainsworth. Theo Bowlby và Ainsworth, quan hệ đầu tiên và chủ yếu của em bé khi mới sinh ra không phải là với đồ vật xung quanh mà là với con người, với người chăm sóc trực tiếp. Ngay từ trong những tháng đầu, em bé không thụ động mong đợi mẹ săn sóc, mà chủ động đối với mẹ, có một loạt ứng xử: kêu khóc, mỉm cười, bám víu, nhìn theo, tìm theo làm cho mẹ quan tâm.

Em bé có thể gợi hình ảnh mẹ trong lúc mẹ đi vắng. Vì vậy, khi mẹ ra đi, biểu hiện quyến luyến của trẻ chỉ rõ nét ở những lúc trẻ mỏi mệt hoặc bực bội. Ngoài mẹ, trẻ có thể gắn bó với một số người khác. Dựa trên cách đáp ứng của mẹ, có thể phân biệt ra các kiểu gắn bó: 

1. Các kiểu gắn bó

Thông qua thực nghiệm, M. Ainsforth (1979) đã đưa ra những bằng chứng cho thấy có 3 loại gắn bó ở trẻ nhỏ được hình thành dưới ảnh hưởng giao tiếp của người mẹ/ người chăm sóc

  • Kiểu gắn bó an toàn: thường gặp ở 65 – 66% số trẻ nhỏ. Đặc điểm đặc trưng của trẻ có loại gắn bó này là trẻ cảm thấy thoải mái khi có mẹ bên cạnh. Khi mẹ đi ra khỏi phòng trẻ bắt đầu thấy bất an, mếu máo và ngừng chơi. Khi mẹ trở lại phòng thì trẻ tìm cách gần gũi và tương tác với mẹ, sau đó nhanh chóng bình tĩnh trở lại và tiếp tục chơi. Đây là những cặp mà trước đó, bà mẹ được đánh giá là nhạy cảm và có cách đáp ứng phù hợp đối với các kích thích từ phía con mình
  • Kiểu gắn bó né tránh/ không an toàn: thường gặp ở 20 – 21,5% trẻ nhỏ. Khi mẹ đi ra khỏi phòng, sau đó đi vào phòng nhưng đứa trẻ không để ý đến điều này, không tìm cách gần gũi với mẹ mà vẫn tiếp tục chơi. Thậm chí, đứa trẻ không tương tác với mẹ ngay cả khi người mẹ tìm cách chơi với nó. Các bà mẹ của các trẻ trong nhóm này, qua quan sát trong quá trình trước đó, tỏ ra là một bà mẹ rất kém nhạy cảm đối với những nhu cầu của con mình và thường đáp ứng một cách rất vụng về. Thay vì biểu lộ sự trìu mến, các bà mẹ này thường hành động một cách nóng nảy và cáu kỉnh với con, khiến cho trẻ có cảm giác bị chối từ mỗi khi nó tìm đến mẹ để được yêu thương.
  • Kiểu gắn bó không an toàn/kháng cự: chỉ gặp ở khoảng 10 – 12,5% trẻ nhỏ. Trẻ thuộc kiểu này thường lo âu ngay cả khi có mẹ bên cạnh. Giống như kiểu gắn bó né tránh/ không an toàn, trẻ khóc khi người chăm sóc/mẹ rời đi, nhưng lại chống đối khi mẹ quay lại và có ý định an ủi chúng. Trẻ có thể quẫy đạp khi mẹ bế. Các bà mẹ trong trường hợp này được ghi nhận là hơi thờ ơ và thiếu nhạy cảm trong quá trình tương tác với trẻ, tức là các dấu hiệu đáp ứng từ bà mẹ diễn ra không đều, lúc có, lúc không, nhưng không đến mức chối từ như những bà mẹ ở nhóm thứ 2. Trẻ không chắc là mình có được giúp đỡ hay không nếu trẻ kêu gọi sự trợ giúp từ mẹ. Trẻ luôn sống trong lo hãi bị chia li và do đó, cũng rất e dè khi khám phá thế giới.

Ngoài ra, còn có kiểu gắn bó rối loạn: loại này được Ainsforth đưa ra muộn hơn so với ba loại trên. Đây là kiểu gắn bó bệnh lý khi trẻ nhìn thấy mẹ quay trở lại phòng thì lảng tránh và trốn mẹ. Trẻ nhóm này có mức độ bất an cao nhất. Người chăm sóc/ mẹ của nhóm này thường là bị phiền muộn, có những chấn thương tình cảm, thể chất chưa được giải quyết hoặc đứa trẻ bị lạm dụng, ngược đãi.

Kiểu gắn bó cộng sinh: trẻ thuộc kiểu này luôn luôn để ý đến mẹ, nhất cử nhất động từ mẹ cũng được đứa trẻ theo dõi nên mẹ không thể tách nó ra được. Trong quá trình làm thực nghiệm, đứa trẻ theo dõi mẹ và thấy mẹ có động tác rời phòng là nó ngay lập tức vồ vào người mẹ và không chịu buông ra.

Trẻ em phát triển một hệ thống các mối quan hệ gắn bó với những người chăm sóc khác. Ví dụ, một đứa trẻ với ba người chăm sóc khác nhau (mẹ, bố và vú nuôi) sẽ có một mối quan hệ gắn bó cụ thể với từng người chăm sóc dựa vào cách mà người chăm sóc đó phản ứng với trẻ khi trẻ bị tổn thương về thể chất, bị bệnh hoặc khó chịu về cảm xúc; đặc biệt, khi sợ hãi. 

Sự gắn bó, liên kết tình cảm của trẻ với cha mẹ đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa những căng thẳng ở giai đoạn đau khổ, lo lắng hay bệnh tật. 

2. Vai trò của quan hệ gắn bó

Bắt đầu từ khi chào đời cho đến 3 tuổi, sự gắn bó đã xuất hiện và giữ vị trí quan trọng, giai đoạn nhạy cảm nhất của sự gắn bó là từ 6 tháng đến trước 3 tuổi. Sau 3 tuổi, sự hiện diện của mẹ sẽ không còn xâm chiếm mạnh mẽ thế giới nội tâm của trẻ như trước nữa vì mục tiêu của việc tìm kiếm sự gắn bó đã được mở rộng, khả năng độc lập khám phá cuộc sống xung quanh đã nâng cao.

Nghiên cứu theo chiều dọc đã chỉ ra rằng có một người chăm sóc “yêu thương” và phát triển sự gắn bó an toàn với người chăm sóc chính đóng vai trò như một yếu tố bảo vệ chống lại những sai lệch cảm xúc và xã hội cho trẻ. 

Trong 4 kiểu gắn bó (an toàn, né tránh, kháng cự và gắn bó rối loạn) gắn bó rối loạn ở trẻ nhỏ được công nhận là một yếu tố dự báo mạnh mẽ cho các bệnh tâm thần nghiêm trọng và sự mất cân bằng ở trẻ em. Trẻ có gắn bó rối loạn dễ bị căng thẳng, có vấn đề với việc điều chỉnh và kiểm soát các cảm xúc tiêu cực, thể hiển những hành vi chống đối, thù địch, gây hấn. Gắn bó rối loạn chủ yếu gặp ở nhóm trẻ em có vấn đề lâm sàng và những trẻ là nạn nhân của sự ngược đãi (ví dụ, gần 80% trẻ bị ngược đãi có gắn bó rối loạn). Nhìn chung, trẻ có gắn bó rối loạn ở giai đoạn đầu đời sẽ phải chịu nhiều những nguy cơ sau này hơn, trẻ cũng có thể gặp khó khăn trong tương tác với các bạn đồng trang lứa.

Những trẻ có gắn bó an toàn với mẹ của chúng trở nên tự lập hơn và có ý thức hơn về lòng tự trọng. Alan Sroufe - một nhà nghiên cứu mối quan hệ gắn bó tại Viện Phát triển trẻ em Đại học Minnesota đã nghiên cứu một nhóm 180 trẻ em thiệt thòi – hiện giờ 19 tuổi từ trước khi sinh. Sroufe thấy rằng mặc dù những trẻ này có cuộc sống không ổn định, nhưng nếu các em có một mối quan hệ gắn bó mẹ con an toàn, chúng có khả năng tự chủ ở tuổi thanh thiếu niên, có tỉ lệ các bệnh rối loạn tâm thần thấp hơn.

Tách rời mẹ quá sớm sẽ rất ảnh hưởng tới sự phát triển ngôn ngữ, nhận thức, tình cảm của trẻ. R.Spitz (1965) đã miêu tả nhiều triệu chứng chậm phát triển thể lực và tâm lí của những đứa trẻ bị đưa vào các trại trẻ từ khi sinh. Mặc dù điều kiện nuôi dưỡng và vệ sinh ở đó là tốt, phần trăm trẻ chết ở những nơi này là rất cao.

Bộ phận tư vấn tâm lý - Công ty Luật Minh Khuê

Bài viết chỉ mang tính chất tham khảo, không phải là ý kiến tư vấn chính thức cuối cùng của chuyên gia tâm lý. Nếu có điều gì cần chia sẻ, trợ giúp về tâm lý quý khách hãy gọi đến tổng đài tư vấn tâm lý :  1900.6162 chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe và cùng bạn tháo gỡ khó khăn !