Thưa luật sư, hiện tại tôi đang tìm hiểu quy định pháp luật về sự kiện bất khả kháng cụ thể nội dung thắc mắc đó là: Sự kiện bất khả kháng có là căn cứ miễn thực hiện nghĩa vụ hoàn trả tài sản hay không? Rất mong được luật sư giải đáp. Xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Dương Hoa - Hà Nội

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật dân sự năm 2015

2. Sự kiến bất khả kháng là gì?

Khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.” Bên cạnh Bộ luật dân sự năm 2015, định nghĩa sự kiện bất khả kháng cũng được quy định rải rác tại các văn bản pháp luật khác nhau. Một số văn bản pháp luật đưa ra ví dụ các trường hợp cụ thể được coi là bất khả kháng, bao gồm các sự kiện tự nhiên như thiên tai, hỏa hoạn, cháy nổ, lũ lụt, sóng thần, bệnh dịch hay động đất hoặc các sự kiện do con người tạo nên như bạo động, nổi loạn, chiến sự, chống đối, phá hoại, cấm vận, bao vây, phong tỏa và bất kỳ hành động chiến tranh nào hoặc hành động thù địch cộng đồng nào. Các quy định này về cơ bản phù hợp với quy định tại Bộ luật dân sự năm 2015.

>> Xem thêm:  Bảo hiểm trách nhiệm dân sự là gì ? Khái niệm về bảo hiểm trách nhiệm dân sự ?

3. Nghĩa vụ trả lại tài sản trong quan hệ dân sự là gì?

Nghĩa vụ trả lại tài sản, có thể có các tên gọi khác nhau trong các hợp đồng khác nhau, nhưng có chung một bản chất là khi hết hạn hợp đồng thì một bên đã nhận tài sản từ bên kia có nghĩa vụ trả lại tài sản cho bên kia. Đó có thể là nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng vay tài sản, nghĩa vụ trả lại tài sản thuê trong hợp đồng thuê tài sản, nghĩa vụ trả lại tài sản thuê khoán trong hợp đồng thuê khoán tài sản hay nghĩa vụ trả lại tài sản mượn trong hợp đồng mượn tài sản. Trong thực tế, có thể xảy ra trường hợp bên có nghĩa vụ trả lại tài sản rơi vào hoàn cảnh bất khả kháng và câu hỏi đặt ra là bất khả kháng có thể được sử dụng làm căn cứ miễn trách nhiệm hay không? Do các hợp đồng nêu trên đều là các hợp đồng làm phát sinh nghĩa vụ dân sự nên cần nghiên cứu bất khả kháng với ý nghĩa là căn cứ miễn trách nhiệm dân sự nói chung (1). Trên cơ sở nguyên tắc chung đó, chúng tôi sẽ nghiên cứu bất khả kháng và nghĩa vụ hoàn trả (2).

4. Sự kiện bất khả kháng là căn cứ miễn trách nhiệm dân sự

Khi một nghĩa vụ được phát sinh trên cơ sở hợp đồng hoặc trên cơ sở luật định thì chủ thể có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đó. Tuy nhiên, thực tế có thể xảy ra trường hợp bên có nghĩa vụ không thể thực hiện nghĩa vụ đó dù đã áp dụng mọi biện pháp hợp lý. Pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của nhiều nước đều có quy định về các căn cứ miễn trách nhiệm, và một trong số đó là bất khả kháng. Quy định về bất khả kháng là căn cứ miễn trách nhiệm dân sự, hoãn thực hiện nghĩa vụ, điều chỉnh nghĩa vụ… được quy định cả trong Bộ luật dân sự với ý nghĩa là một đạo luật nền tảng điều chỉnh các quan hệ tư, và trong nhiều đạo luật chuyên ngành, như Luật Thương mại năm 2005, Luật Xây dựng năm 2014, Luật Đầu tư năm 2014, Luật Hàng không dân dụng năm 2014…

Bộ luật dân sự năm 2015 có một quy định chung về bất khả kháng được đặt trong phần về thời hạn và thời hiệu. Cụ thể, Điều 156 điều chỉnh vấn đề về thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự. Theo Điều 156, thời gian xảy ra bất khả kháng không được tính vào thời hiệu. Nhằm mục đích đó, Điều 156 đưa ra định nghĩa thế nào là bất khả kháng; theo đó, “Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép”. Thông thường, một quy định chuyên biệt được đặt trong một điều luật chuyên biệt (về thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện) thì chỉ áp dụng cho quy định đó, nhưng trong thực tế, quy định của Điều 156 đã được áp dụng làm căn cứ miễn trách nhiệm dân sự nói chung. Ngoài định nghĩa tại Điều 156 nêu trên, Bộ luật dân sự năm 2015 không có bất kỳ định nghĩa nào khác về bất khả kháng, mà chỉ có các quy định về bất khả kháng là căn cứ miễn trách nhiệm dân sự nói chung (khoản 2 Điều 351) và trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng và trong từng chế định cụ thể thuộc hai lĩnh vực này. Đây là một điều khác biệt của pháp luật Việt Nam so với pháp luật ở một số quốc gia trên thế giới

Ngoài các quy định chung và chuyên biệt được quy định trong Bộ luật dân sự, chúng ta còn thấy bất khả kháng được quy định trong các đạo luật chuyên ngành là căn cứ miễn trách nhiệm, kéo dài thực hiện hợp đồng, điều chỉnh hợp đồng, điều chỉnh dự án đầu tư... Cụ thể, bất khả kháng được quy định là căn cứ để: miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm (Điểm b khoản 1 Điều 294 Luật Thương mại năm 2005); kéo dài thời hạn, từ chối thực hiện hợp đồng (Điều 296 Luật Thương mại năm 2005); điều chỉnh dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn nhà nước (Khoản 1 Điều 61 Luật Xây dựng năm 2014); Điều chỉnh hợp đồng xây dựng (Điểm d khoản 2 Điều 143 Luật Xây dựng năm 2014); giãn tiến độ đầu tư (Khoản 3 Điều 46 Luật Đầu tư năm 2014); miễn tiền thuê đất trong thời gian tạm ngừng hoạt động để khắc phục hậu quả do bất khả kháng gây ra (Khoản 1 Điều 47 Luật Đầu tư năm 2014); miễn trách nhiệm khi không vận chuyển hành lý cùng với hành khách trên một chuyến bay (Điểm e khoản 2 Điều 149 Luật Hàng không dân dụng năm 2014); miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với người bảo hiểm (Điểm b khoản 2 Điều 183 Luật Hàng không dân dụng năm 2014)… Các văn bản luật chuyên ngành này không định nghĩa thế nào là bất khả kháng và vì vậy, quy định của Bộ luật dân sự sẽ được áp dụng theo nguyên tắc luật chung được áp dụng để bổ khuyết cho luật chuyên ngành.

Như vậy, định nghĩa về bất khả kháng tại Điều 156 BLDS năm 2015 sẽ được sử dụng chung để xác định thế nào là bất khả kháng trong các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng; còn khi nào bất khả kháng được coi là căn cứ miễn trách nhiệm thì tùy vào từng quan hệ cụ thể được quy định trong chính Bộ luật dân sự và trong các đạo luật chuyên ngành như đã nêu ở trên.

5. Sự kiện bất khả kháng có là căn cứ miễn thực hiện nghĩa vụ hoàn trả tài sản?

5.1. Nghĩa vụ hoàn trả tài sản trong dân sự

Như đã trình bày ở trên, nghĩa vụ hoàn trả tồn tại trong rất nhiều quan hệ tài sản.

Cụ thể, trong hợp đồng vay tài sản, “khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng”. Đây là quy định chung tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015. Sau đó, Điều 466 Bộ luật dân sự quy định rõ hơn về nghĩa vụ hoàn trả; theo đó, “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý”.

>> Xem thêm:  Sự kiện pháp lý là gì ? Cách phân loại sự kiện pháp lí ?

Đối với hợp đồng thuê tài sản, bên thuê “phải trả lại tài sản thuê trong tình trạng như khi nhận, trừ hao mòn tự nhiên…” (Khoản 1 Điều 481 BLDS năm 2015).

Đối với hợp đồng thuê khoán tài sản, khi chấm dứt hợp đồng thuê khoán, bên thuê khoán “phải trả lại tài sản thuê khoán ở tình trạng phù hợp với mức độ khấu hao đã thoả thuận" (Điều 493 BLDS năm 2015).

Trong hợp đồng mượn tài sản, bên mượn “phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được” (Điều 494 BLDS năm 2015). Bên mượn tài sản phải “trả lại tài sản mượn đúng thời hạn; nếu không có thoả thuận về thời hạn trả lại tài sản thì bên mượn phải trả lại tài sản ngay sau khi mục đích mượn đã đạt được”.

Tương tự, trong hợp đồng gửi giữ tài sản, “bên giữ nhận tài sản của bên gửi để bảo quản và trả lại chính tài sản đó cho bên gửi khi hết thời hạn hợp đồng” (Điều 554 BLDS năm 2015). Nếu không có thỏa thuận khác, bên giữ phải trả lại chính tài sản đã nhận và cả hoa lợi nếu có tại nơi gửi giữ theo đúng thời hạn.

5.2. Sự kiện bất khả kháng có phải là căn cứ miễn trách nhiệm hoàn trả tài sản?

Do các hợp đồng nêu trên đều là là các hợp đồng làm phát sinh nghĩa vụ dân sự và để biết bất khả kháng có thể được dùng làm căn cứ miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ phát sinh từ các hợp đồng đó hay không thì có thể áp dụng quy định chung về trách nhiệm dân sự.

Cụ thể, khoản 2 Điều 351 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”. Tuy nhiên, quy định này đề cập tới nghĩa vụ dân sự nói chung, chứ không phải một nghĩa vụ dân sự cụ thể nào, nên không đủ rõ để chúng ta trả lời được câu hỏi bất khả kháng có thể được sử dụng làm căn cứ miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm mọi nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng, trong đó có nghĩa vụ trả lại tài sản, hay không.

Vì vậy, câu trả lời cần được tìm trong chính các chế định liên quan đến các hợp đồng chuyên biệt này. Chúng tôi thấy rằng, tất cả các chế định trên đều quy định về nghĩa vụ trả lại tài sản, nhưng không quy định trường hợp miễn trách nhiệm khi bên có nghĩa vụ hoàn trả không thực hiện nghĩa vụ của mình. Chỉ riêng đối với hợp đồng thuê khoán tài sản và hợp đồng gửi giữ tài sản thì Bộ luật dân sự có quy định về bất khả kháng.

Đối với hợp đồng thuê khoán tài sản, Bộ luật dân sự quy định về bất khả kháng nhưng quy định này chỉ liên quan đến giảm tiền thuê khoán. Cụ thể, việc giảm tiền thuê khoán do các bên thỏa thuận và nếu các bên không có thỏa thuận và nếu hoa lợi, lợi tức bị mất ít nhất là một phần ba do sự kiện bất khả kháng thì bên thuê khoán có quyền yêu cầu giảm hoặc miễn tiền thuê khoán (Khoản 3 Điều 488 BLDS năm 2015). Trường hợp đối tượng của thuê khoán là gia súc thì trong thời hạn thuê khoán gia súc, bên thuê khoán được hưởng một nửa số gia súc sinh ra và phải chịu một nửa thiệt hại về gia súc thuê khoán do sự kiện bất khả kháng.

Đối với hợp đồng gửi giữ tài sản, Bộ luật dân sự có quy định về bất khả kháng nhưng chỉ liên quan đến miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp tài sản gửi giữ bị mất hoặc bị hư hỏng do bất khả kháng. Cụ thể, bên gửi tài sản có quyền “yêu cầu bồi thường thiệt hại, nếu bên giữ làm mất, hư hỏng tài sản gửi giữ, trừ trường hợp bất khả kháng”.

Vì vậy, có thể thấy, các quy định về sự kiện bất khả kháng trong hợp đồng thuê khoán chỉ áp dụng đối việc điều chỉnh các nghĩa vụ phát sinh từ thỏa thuận của các bên, không áp dụng đối với nghĩa vụ hoàn trả vốn là nghĩa vụ luật định. Đối với hợp đồng thuê khoán, sự kiện bất khả kháng chỉ là căn cứ miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

>> Xem thêm:  Làm thế nào để được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội khi bị tai nạn giao thông trên đường đi làm ?

Có thể thấy rằng, khi pháp luật chỉ quy định miễn trách nhiệm trong các tình huống cụ thể (giảm tiền thuê khoán, giảm số gia súc đượng hưởng trong hợp đồng thuê khoán và miễn trách nhiệm bồi thường trong hợp đồng gửi giữ tài sản), điều này có nghĩa là sự kiện bất khả kháng sẽ không được dùng để làm căn cứ miễn trách nhiệm đối với các nghĩa vụ khác. Tuy nhiên, việc này không thể thực hiện được đối với những hợp đồng mà luật hoàn toàn không có quy định về bất khả kháng đối với những nghĩa vụ cụ thể phát sinh từ các hợp đồng ấy (hợp đồng vay tài sản, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng mượn tài sản...).

Theo chúng tôi, cần phân biệt hai loại nghĩa vụ có thể phát sinh từ các hợp đồng trên. Loại nghĩa vụ thứ nhất là nghĩa vụ mà các bên thỏa thuận làm phát sinh trong quan hệ của mình. Chẳng hạn, đối với hợp đồng thuê tài sản, các bên có thể thỏa thuận làm phát sinh nghĩa vụ giao tài sản gì, số lượng, chủng loại, thời gian, tiền thuê, thời hạn trả tiền thuê, phương thức thanh toán... Loại nghĩa vụ thứ hai là nghĩa vụ luật định mà các bên không thể định đoạt khác và nếu các bên định đoạt khác thì sẽ làm mất đi bản chất của quan hệ hợp đồng đó. Nghĩa vụ hoàn trả tài sản thuộc loại thứ hai. Nói cách khác, nếu chẳng hạn trong hợp đồng mượn tài sản mà các bên thỏa thuận bên mượn tài sản không phải trả lại tài sản cho bên cho mượn thì hợp đồng này không còn là hợp đồng mượn tài sản nữa, mà có thể sẽ trở thành hợp đồng tặng cho tài sản.

Đối với loại nghĩa vụ thứ nhất, bất khả kháng có thể được sử dụng làm căn cứ miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm; còn đối với loại nghĩa vụ thứ hai, mà cụ thể là nghĩa vụ hoàn trả, bất khả kháng không thể được sử dụng làm căn cứ miễn trách nhiệm. Tòa án ở một số nước cũng đã quyết định theo hướng này.

Từ phân tích trên đây có thể thấy rằng, các quy định về bất khả kháng trong pháp luật dân sự Việt Nam, ngoài sự bất hợp lý về vị trí (đặt tại quy định về thời hiệu), còn chưa thực sự rõ ràng để khẳng định bất khả kháng có được coi là căn cứ miễn nghĩa vụ hoàn trả hay không. Vì vậy, cần sửa đổi BLDS năm 2015 theo hướng, bổ sung quy định định nghĩa thế nào là bất khả kháng và đặt ở phần chung để áp dụng cho toàn bộ các quan hệ tư. Trên cơ sở đó, cần bổ sung quy định về căn cứ miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm từng loại nghĩa vụ cụ thể.

Trong thời gian tới, rất có thể sẽ có nhiều tranh chấp phát sinh từ sự kiện bất khả kháng do đại dịch Covid gây ra. Vì vậy, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn để giải quyết vấn đề này.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Nghĩa vụ trả lại tài sản là gì?

Trả lời:

Nghĩa vụ trả lại tài sản, có thể có các tên gọi khác nhau trong các hợp đồng khác nhau, nhưng có chung một bản chất là khi hết hạn hợp đồng thì một bên đã nhận tài sản từ bên kia có nghĩa vụ trả lại tài sản cho bên kia. Đó có thể là nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng vay tài sản, nghĩa vụ trả lại tài sản thuê trong hợp đồng thuê tài sản, nghĩa vụ trả lại tài sản thuê khoán trong hợp đồng thuê khoán tài sản hay nghĩa vụ trả lại tài sản mượn trong hợp đồng mượn tài sả

Câu hỏi: Sự kiện bất khả kháng có phải là căn cứ miễn trách nhiệm dân sự không?

Trả lời:

Có, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 351 Bộ luật dân sự năm 2015:

Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Câu hỏi: Trong hợp đồng thuê khoán, sự kiện bất khả kháng có là căn cứ miễn trách nhiệm hoàn trả tài sản không?

Trả lời:

Các quy định về sự kiện bất khả kháng trong hợp đồng thuê khoán chỉ áp dụng đối việc điều chỉnh các nghĩa vụ phát sinh từ thỏa thuận của các bên, không áp dụng đối với nghĩa vụ hoàn trả vốn là nghĩa vụ luật định. Đối với hợp đồng thuê khoán, sự kiện bất khả kháng chỉ là căn cứ miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại.