Mẫu giấy về việc cung cấp thông tin, tài liệu, bằng chứng (Mẫu số 06-KN) được ban hành kèm theo thông tư 07/2013/TT-TTCP ( tuy nhiên thông tư này hiện nay đã hết hiệu lực và chưa có văn bản thay thế. Mẫu quyết định về việc cung cấp thông tin tài liệu bằng chứng quy định tại mẫu 06-KN (chỉ mang tính chất tham khảo vì TT 07/2013/TT-TTCT đã hết hiệu lực) sẽ có trong bài viết của Luật Minh Khuê dưới đây
Chứng minh trong tố tụng dân sự không chỉ có ý nghĩa đối với Tòa án trong việc giải quyết vụ việc dân sự mà còn có ý nghĩa đối với các đương sự trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Phân tích và đánh giá quy định về chứng cứ, chứng minh trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
Chứng cứ là một trong những yếu tố được xem là quan trọng trong bất kỳ một vụ án nào. Bởi nó là căn cứ để tòa án đưa ra những phán quyết. Vậy thì nghĩa vụ cung cấp chứng cứ trong tố tụng dân sự là gì?
Cung cấp chứng cứ là hoạt động tố tụng của các chủ thể tố tụng trong việc đưa lại cho toà án, viện kiểm sát các chứng cử của vụ việc dân sự. Trong tố tụng dân sự, các đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện hoặc đang quản lí, lưu giữ chứng cứ có nghĩa vụ cung cấp cho toà án.
Tài liệu đọc được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận. Vật chứng là chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc.
Trong vụ án Dân sự nếu Tòa án có thể ra quyết định yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu trữ chứng cứ cung cấp chứng cứ. Tuy nhiên việc này còn gặp nhiều khó khăn do quy định của pháp luật còn chung chung, chưa cụ thể.
Việc yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ là biện pháp thu thập chứng cứ bảo đảm cho toà án có đủ chứng cứ giải quyết đúng vụ việc dân sự. Trong tố tụng dân sự, đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ nên được áp dụng biện pháp này để có chứng cứ đủ cung cấp cho toà án.
Luật Minh Khuê xin giới thiệu: Mẫu quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ (Mẫu số 4) ban hành kèm theo Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao