NỘI DUNG TƯ VẤN​

1. Giá trị tiềm ẩn và sự thịnh vượng mới phát hiện

Tài sản thuộc SHTT đang thành công trong vai trò thước đo khả năng tồn tại và hiệu quả hoạt động trong tương lai của doanh nghiệp. Năm 1982, khoảng 62% tài sản doanh nghiệp ở Hoa Kỳ là tài sản vật chất, nhưng đến năm 2000, con số này đã giảm xuống chỉ còn 30%. Vào đầu những năm 1990, ở châu Âu tài sản vô hình chiếm trên 1/3 châu tổng số tài sản. Ví dụ ở Hà Lan, năm 1992 tài sản vô hình chiếm trên 35% tổng đầu tư của nhà nước và tư nhân. Một cuộc nghiên cứu ở Anh mới đây chỉ ra rằng trung bình có tới 40% giá trị của một công ty không được thể hiện bằng bất cứ cách nào trên bằng cân đối của công ty. SHTT là một bộ phận quan trọng của tài sản vô hình.

Một cuộc khảo sát được tiến hành năm 1993, lấy mẫu tổng cộng 284 hãng của Nhật Bản, đã phát hiện ràng tài sản thuộc SHTT chiếm 45,2% thức doanh nghiệp đựơc tích luỹ trong có báo cáo (bao gồm cả thức thống như thức được định hình trong các tư liệu và cả thức ngầm không thể được định hình như tập hợp những kỹ năng của con người).

Vì vậy, nền kinh tế được xây dựng bằng gạch-và-vữa đang được thay thế bằng nền kinh tế của những ý tưởng trong đó SHTT trở thành một trong các loại tiền tệ chủ yếu. Trong nền kinh tế mới, sự thịnh vượng được tạo ra thông qua sáng tạo và nắm giá trị của thức. Trong suốt lịch sử của nền văn minh nhân loại, sự giàu có dựa vào chiếm hữu tài sản vật chất. Tuy nhiên, ngày nay mô hình này đã thay đổi, tri thức đã trở thành nguồn của cái mới.

Ý nghĩa quan trọng, tích cực của bảo hộ SHTT đối với sự tiến bộ công nghệ của một nước có thể thấy rõ ở tầm kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, cho đến gần đây vẫn khó có thể định giá được SHTT ở mức vi mô, một phần vì thiếu những phương pháp định giá khả thi. Tài sản thuộc SHTT vẫn chưa được thể hiện đẩy đủ trong bằng cân đối của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, môi trường bao quanh việc định giá các tài sản vô hình đã thay đổi mạnh trong thập kỷ vừa qua. Nội dung này sẽ bàn luận về những thay đổi và nỗ lực gần đây để tìm ra một cách định giá đối với tài sản thuộc SHTT Thông qua những nỗ lực nói trên để xác định giá trị tiềm ẩn của tài sản trí tuệ, và phạm vi mà SHTT và sẽ tiếp tục gia tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.

2. Tài sản vô hình, sở hữu trí tuệ và công việc

2.1 Tài sản vô hình và sở hữu trí tuệ

Với việc ngày càng nhận ra giá trị tiềm ẩn của SHTT các công ty đang tăng cường quản lý và sử dụng các bằng độc quyền sáng chế của mình, không chỉ để bảo hộ phòng ngừa chống lại hành vi trí tuệ mà còn để làm một công cụ nhằm tăng lợi thế cạnh tranh của mình, tăng ảnh hưởng trong vực của mình và nâng cao uy tín với danh nghĩa là những đổi mới thị trường. Những cuộc thảo luận về vấn đề này trên bình diện quốc tế đã bắt đầu xuất hiện, đặc biệt là về phạm vi mà SHTT được xem là một dạng vốn mới, một yếu tố mang lại thành công trong kinh doanh. Các cổ đông ngày càng nhạy cảm hơn với giá trị của tài sản thuộc SHTT và sử dụng chúng như một biểu thị khả năng sinh lợi của công ty.

Người ta từng nói "sáng tạo trí tuệ chỉ có thể có ý nghĩa kinh tế khi chúng ta đánh thức được nhà sáng tạo trong nhà doanh nghiệp, đồng thòi đánh thức được nhà doanh nghiệp trong nhà sáng tạo". Sự toàn cầu hoá, phát triển công nghệ và Internet đã nhận thức mới về giá trị của SHTT cho các doanh nhân và nhà đổi mới, đồng thời cả hai đánh thức nhu cầu bảo hộ SHTT và xây dựng "một bền vững giữa sáng chế và thị trường".

Trong nền kinh tế mới, đổi mới có giá trị như kỹ năng. Khi nguồn thông tin chung khổng lồ được quản lý một cách sáng tạo thì những ý tưởng kinh doanh biến thành tri thức có giá trị gia tâng. Nhiều khi việc tri thức được đưa vào trọng tâm của chiến lược kinh doanh chính là chiếc chìa khoá làm nên sự thành công và độc đáo của cà những doanh nghiệp có truyền thống và những doanh nghiệp mới thành lập. Nguồn vốn trí tuệ chứa đựng các kết quả của công việc quản lý có tính đổi mới đối với tri thức . Ngày nay, quyền SHTT có tỷ trọng rất trong số các tài sản vô hình của doanh nghiệp, bên cạnh những thủ tục kinh doanh khác có thể sở hữu được tương tự như tri thức.

2.2 Công việc và yêu cầu đòi hỏi:

Công việc quản lý cạnh tranh hiện đại quan tâm đến việc sử dụng SHTT ở tầm chiến lược tạo ra môi trường cho tư duy đổi mới và chăm lo chi thức cho người làm việc trong doanh nghiệp (ví dụ, chia sẻ kỹ năng giữa các nhóm thức, lựa chọn sự đổi mới theo quan điểm chiến lược để bảo hộ SHTT và định giá tài sản thuộc SHTT).

Kinh doanh trong nền kinh tế mới phụ thuộc rất nhiều vào các quan hệ ổn định và lâu dài trên cơ sở tin cậy và cùng có lợi, sự cân nhắc kỹ lưỡng giữa việc tạo ra thức mới và lợi ích cho xã hội. Một cách tiếp cận quản lý có quan tâm đến SHTT mang lại vị thế thuận lợi khi thương lượng để trao đổi tài sản trí tuệ và quan hệ đối tác chiến lược hơn. Trên thị trường của công nghệ cũng như quan hệ doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B), việc định giá SHTT là một động lực. SHTT cũng cho phép doanh nghiệp thiết lập một nhãn hiệu mạnh (nhãn hiệu hàng hoá, tên miền V.V.), có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc nuôi dưỡng sự thừa nhận và niềm tin tưởng trên môi trường Internet. Việc tạo và khai thác tài sản trí tuệ bằng lao động trí thức là chiến lược cơ bản cùa doanh nghiệp. SHTT tạo ra động cơ và sự khuyến khích quan trọng cho người lao động thông qua việc thừa nhận và thưởng cho những đóng góp trí tuệ của họ đối với quá trình sản sinh ra tài sản thuộc doanh nghiệp và tìm kiếm sự bảo hộ pháp lý sau đó.

Trong bối cảnh thị trường thay đổi nhanh chóng, nơi mà sản phẩm và dịch vụ có vòng đời ngắn hơn, doanh nghiệp cần có một hệ thống ra quyết định cho phép đánh giá một cách chính xác tài sản trí tuệ sự bảo hộ pháp lý đối với quyền SHTT chiến thuật "nộp đơn trước và đánh giá sau"dường như thích hợp với những tài sản mà khả năng thương mại hoá không chắc chắn.

3. Vô hình và không định lượng được

Mọi doanh nghiệp đều có danh mục tài sản bao gồm cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình, trong đó có SHTT Những tài sản trí tuệ này có tiềm năng góp phần quan trọng trong việc gia tăng lợi nhuận cho nhà đầu tư. Những doanh nghiệp không nhận thức đầy đủ và không hiểu rõ tiềm năng này sẽ đối mặt với nguy cơ mất thu nhập, mất phương hương, giảm giá trị thị trường và có thể sụp đổ ’.

Theo nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung (GAAP), tài sản bao gồm (a) vốn lưu động; (b) nhà xưởng, bất động sản và trang thiết bị (tương ứng với tài sản hữu hình); và (c) tài sản khác (tương ứng với tài sản vô hình). Mặc dù các kế toán viên đã thừa nhận sự tồn tại của tài sản vô hình nhưng loại tài sản vô hình khác nhau đã được gộp chung vào một gọi là "uy tín" mà không được nhận dạng một cách. Trong những năm 1960, làn sóng M&A công ty đã thúc đẩy việc xem xét lại công việc kế toán đối với tài sản vô hình. Năm 1981, Vương quốc Anh đã ban hành Luật Công ty, cho phép các doanh nghiệp đưa tài sản vô hình vào bảng kế toán của mình. Tuy nhiên, cho đến những năm 1990, một số chính phủ bắt đầu xây dựng các tiêu chuẩn cụ thể hơn cho các loại tài sản đó. Trong thập kỷ vừa qua, khi nền kinh tế và kinh doanh đã tập trung chú ý nhiều hơn đến giá trị gia tăng cũng như đã trở nên thiên về dịch vụ nhiều hơn và dựa vào tri thức, tỷ trọng tài sản vô hình so với tài sản hữu hình đã tăng lên. Liên minh chiến lược đã trở nên phổ biến như một cách đối phó với cạnh tranh trên thị trường toàn cầu và, theo The Economist, giá trị M&A trên toàn thế giới đã tăng liên tục từ 0,5 nghìn tỷ USD năm 1990 lên 3,5 nghìn tỷ USD năm 2000."

4. Sở hữu trí tuệ đối với nền kinh tế mới

SHTT đang trở thành loại tài sản hàng đầu. Nguyên nhân của sự biến đổi này là sự xuất hiện của cái gọi là nền kinh tế tri thức được sự hỗ trợ của Internet, làm thay đổi hoàn toàn phạm vi, số lượng và tốc độ truy cập thông tin (từ đó tri thức có thể được tạo ra). Việc tạo ra sự thịnh vượng - cũng như các lợi ích xã hội và văn hoá kèm theo đó - ngày càng phụ thuộc vào việc tạo ra và quản lý ba phạm trù tên gọi bắt đầu bằng chữ "i": đổi mới (innovation), thông tin (information) và ý tưởng (idea), có sử dụng một chữ "i“ khác là Internet. Đó là nhiên liệu tạo ra sức đẩy mạnh không thể tin được đối với sự phát triển công nghệ ngày nay, đồng thời việc chiếm hữu (hoặc tiếp cận) các phạm trù đó có ý nghĩa sống còn đối với bất cứ một công ty nào muốn đứng vững trên tuyến đầu của lĩnh vực này - bất kể trong việc tạo ra những sản phẩm mới mang tính đổi mới hoặc tìm ra cách thức sản xuất sản phẩm cũ một cách tiết kiệm và đổi mới. Sự toàn cầu hoá đang gia tăng các nguồn tài chính đầu tư vào các sản phẩm và quy trình mới này, khi mà một thị trường toàn cầu thực sự đang ngày càng trở nên dễ tiếp cận hơn thông qua công nghệ truyền thông mới. Bức tranh toàn cảnh về kinh tế - và vị trí của SHTT trong đó - đã thay đổi hoàn toàn. Thành phần chính của bức tranh mới này là Internet và hệ giao tiếp đồ hoạ gần gũi với người sử dụng của nó, Mạng Toàn cầu. Những sáng chế khác đã từng có ảnh hưởng rất sâu sác đến xã hội (bánh xe, động cơ đốt trong, radio), nhưng khó có thể nghĩ ràng một trong các sáng chế đó lại có tác động trực tiếp và rộng rãi như vậy. Trong 4 năm đầu tiên kể từ khi ra đòi, đã có tới 50 triệu người sử dụng Mạng (điện thoại phải mất tới 74 năm để đạt được con số này), và người ta nói rằng cứ sau 100 ngày thì số lượng người sử dụng Internet lại tăng lên gấp đôi.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê