1. Luật Môi trường là một môn khoa học chuyên ngành ?

Luật môi trường là môn khoa học pháp lí chuyên ngành. Trong khoa học pháp lí, sự hình thành bộ môn khoa học, vai trò và vị trí của nó là do nhu cầu của cuộc sống quyết định. Luật môi trường hình thành cũng chính là do nhu cầu của xã hội, của quốc gia đối với việc bảo vệ môi trường, chống lại những sự huỷ hoại vô thức hoặc có ý thức của con người.

Với tư cách là môn khoa học pháp lí chuyên ngành, luật môi trường có đối tượng nghiên cứu riêng của nó.

2. Đối tượng nghiên cứu của Luật môi trường là gì?

Đối tượng nghiên cứu của luật môi trường cần kể đến trước tiên là các quan hệ xã hội mà các quy phạm luật môi trường tác động đến. Việc nghiên cứu các quan hệ xã hội phát sinh từ hoạt động sử dụng, khai thác và bảo vệ môi trường chính là tiêu chí quan ưọng để phân biệt khoa học luật môi trường với các bộ môn khoa học khác như môi trường học, sinh thái học. Các bộ môn khọa học kể ttên nghiên cứu các hiện tượng, các biến động tự nhiên của môi trường dưới những tác động khác nhau của thiên nhiên và con người. Khi nghiên cứu môi trường, các ngành khoa học này không chú trọng hoặc ít chú trọng đến các khía cạnh xã hội của các vấn đề môi trường. Con người trong các nghiên cứu này chỉ được đánh giá như những chủ thể tự nhiên ưong mối quan hệ với các yếu tố môi trường. Ngược lại, luật môi trường không chú họng đến các khía cạnh tự nhiên của vấn đề môi trường mà chi chú họng đến khía cạnh xã hội của chúng. Luật môi trường nghiên cứu các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể tham gia sử dụng, khai thác các yếu tố khác nhau của môi trường. Khi nghiên cứu các quan hệ xã hội này, luật môi trường chú trọng đến các yếu tố như địa vị pháp lí, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong từng mối quan hệ cụ thể phát sinh từ hoạt động sử dụng và khai thác các yếu tố cùa môi trường. Chẳng hạn, chủ sở hữu của nguồn nước, nếu xét về khía cạnh quyền sở hữu thì có quyền quyết định tối cao đối với số phận của nguồn nước. Tuy nhiên, trong quan hệ luật môi trường thì chủ sở hữu không thể được coi là người có quyền tối thượng. Việc sử dụng nguồn nước bởi chủ sở hữu phải phù hợp với những tiêu chuẩn về môi trường mà Nhà nước và cộng đồng đặt ra. Trong mối quan hệ này với cộng đồng, chủ sở hữu nguồn nước phải gánh vác những nghĩa vụ nhất định xét ở góc độ bảo vệ môi trường. Nếu như việc sử dụng nguồn nước có nguy cơ gây ô nhiễm thì dù không vi phạm quyền của bất cứ chủ thể nào, chủ sở hữu nguồn nước vẫn phải chịu ưách nhiệm pháp lí. Khoa học luật môi trường nghiên cứu những quan hệ xã hội cụ thể giữa các chủ thể tham gia sử dụng khai thác các yếu tố của môi trường, những quyền và nghĩa vụ mà các chủ thể phải gánh vác khi tham gia các quan hệ đó.

Khoa học luật môi trường nghiên cứu những quy phạm pháp luật đỉều chinh các quan hệ xã hội phát sinh từ các lĩnh vục khác nhau của môi trường như: Quản lí các yếu tố của môi trường, bào vệ môi trường, giải quyết tranh chấp phát sinh. Khi nghiên cứu các quy phạm của luật môi trường, khoa học luật môi trường đậc biệt chú trọng đến tính phù hợp giữa các quy phạm luật môi trường với mức độ phát triển và tính chất của các quan hệ xã hội mà các quy phạm pháp luật về môi trường điều chỉnh. Sự phù hợp giữa quy phạm pháp luật và quan hệ xã hội là đối tượng của nó tồn tại như một yêu cầu đối với bất cứ môn khoa học pháp lí chuyên ngành nào song đối với khoa học luật môi trường thì nó đặc biệt cần được chú trọng. Điều này có thể được giải thích bởi những lí do sau đây:

3. Mối quan hệ giữa Luật môi trường với các Luật liên quan

- Luật môi trường liên quan rất mật thiết đến yếu tố phát triển. Sự phát triển nhiều khi buộc các quốc gia, các cá nhân có thể hi sinh lợi ích không định lượng được để đạt được những lợi ích định lượng được. Chính vì vậy, việc soạn thảo và ban hành các văn bản pháp luật, ra các quyết định, chính sách chịu sự chi phối không ít cùa lợi ích trước mắt và định lượng được (chẳng hạn như xuất khẩu gọ vói kim ngạch xuất khẩu là 50 triệu đô la hoặc dùng phần vốn đầu tư cho các thiết bị xử lí chất thải của công trình nàỵ để đầu tư cho một công trình khác). Các cộng đồng cũng dễ sẵti sàng chấp nhận các quy định pháp luật, các chính sách có lợi trước mắt song lại rất tác hại tới môi trường sau này hơn là chấp nhận những chính sách mang tính ngăn chặn cho tương lai.

- Nhiều quy phạm của pháp luật môi trường liên quan đến lợi ích thiết thực của cộng đồng, liên quan đến cuộc sống trực tiếp của họ. Những người dân sống nhờ vào rừng thì không dễ gì từ bỏ việc đốt rừng làm nương rẫy để sản xuất lương thực, từ bỏ việc chặt gỗ để làm củi hoặc để bán. Vì lí do đó các quy định pháp luật liên quan đến việc đóng cửa rừng, cấm khai thác gỗ khó có được sự chấp nhận của nhiều cộng đồng.

- Quy phạm pháp luật môi trường liên quan đến nhiều lĩnh vực khẩc nhau. Trong luật môi trường chúng ta thấy có các quy phạm luật hành chính, các quy phạm luật dân sự, các quy phạm luật đất đai... khi nó tiếp cận các quan hệ phát sinh từ quá trình quản lí, khai thác và sử dụng các yếu tố khác nhau của môi trường.

4. Luật môi trường là lĩnh vực pháp luật chuyên ngành

Ở Việt Nam cũng như hầu hết các nước ttên thế giới, luật môi trường ra đời muộn so với các ngành luật khác. Sự can thiệp trực tiếp của các cơ quan nhà nước vào các hoạt động bảo vệ môi trường để ngăn chặn ngay sự huỷ hoại hoặc suy thoái của môi trường khiến lĩnh vực pháp luật này có nhiều dấu ấn của yếu tô quỵền lực. Chính vì vậy, cũng có quan điểm cho rằng luật môi trượng là một mảng hay một chế định của luật hành chính. Bên cạnh đó, cũng có quan điểm cho rằng luật môi trường là ngành luật độc lập, không thuộc phạm vi của luật hành chính mặc dù các quy định về quản lí nhà nước đối với môi trường khá phổ biến trong các quan hệ được coi là đối tượng của nó.

Quan điểm cho rằng luật môi trường là ngành luật độc lập không có nhiều giá trị lí luận. Việc phân định ngành luật, tức là phân định giới hạn điều chỉnh của các quan hệ pháp luật theo những tiêu chuẩn truyền thống như đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh và cơ cấu chủ thể không giúp cho các luật gia nhận thức tốt hơn bản chất của luật môi trường tuy ttong những bối cảnh nhất định, nó có thể có ý nghĩa cho phân loại trong lĩnh vực luật học. Thực tế, đối với nhiều lĩnh vực pháp luật hiện nay, việc xác định ranh giới giữa chúng rất khó thực hiện do sự phát triển đan xen của các quan hệ kinh tế xã hội. Ngay cả trên ranh giới giữa các ngành luật được coi là truyền thống như luật dân sự, luật đất đai, luật tài chính, luật hành chính... cũng đã xuất hiện nhiều điểm giao thoa khiến nhiều học giả loay hoay tìm cách xác định xem chúng thuộc ngành luật nào. Tình trạng ưên được lí giải bởi các nguyên nhân sau đây:

- Trong sự phát triển của nhiều ngành luật có sự tách riêng của một hoặc một số đỉnh chế. Sự phát triển của các quan hệ xã hội đạt tới mức mà việc hạn chế chúng trong một định chế không còn có thể chấp nhận được. Ví dụ: định chế thuế ttong luật tài chính của nhiều nước đã tách thành ngành luật thuế. Luật hôn nhân gia đình của chúng ta cũng hình thành từ một định chế của luật dân sự trước đây.

- Nhiều lĩnh vực luật có sự đan xen các quan hệ. Ví dụ: mối quan hệ giữa cá nhân với doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp vói doanh nghiệp Hên quan đến sở hữu trí tuệ rất khó có thể xác định đâu là quan hệ dân sự, đâu là quan hệ thương mại. Quan hệ giữa người tiêu dùng với tổ chức bán lẻ hay với bản thân nhà sản xuất cũng khó có thể xác định là hoàn toàn thuộc về lĩnh vực thương mại hay lĩnh vực dân sự. Vì vậy, việc phân đỉnh chứng bằng tiêu chí chủ thể, đối tượng điều chỉnh khó có thể thực hiện được. Luật thương mại, luật hành chính và luật môi trường đều là những ví dụ cự thể.

- Do sự phát triển kinh tế, xã hội nên tính chất “đơn nhất” ttong hoạt động của các doanh nghiệp, các tổ chức được thay thế bởi “tính đa nguyên”. Điều này có nghĩa là một chủ thể pháp luật, nhất là các pháp nhân kinh tế trong điều kiện kinh tế xã hội hiện tại có thể tham gia nhiều quan hệ pháp luật khác nhau. Vì vậy, tiêu chí cơ cấu chủ thể cũng không còn mang tính triệt để như trước.

Chính vì những lí do nêu trên, khoa học luật môi trường không đặt ra vấn đề ngành luật độc lập hay không độc lập mặc dù có nhiều cơ sở khá vững chắc để có thể sắp xểp nó theo cách mà khoa học pháp lí ở các nước XHCN trước đây và ở nước ta hiện nay vẫn áp dụng: đó là sự phân ngành hệ thống pháp luật hiện hành theo ngành luật độc lập.

5. Mối quan hệ giữa luật môi trường với Luật hành chính và luật đất đai?

Vấn đề đặt ra ở đây là luật môi trường có hoàn toàn thuộc về luật hành chính hay thuộc là một lĩnh vực pháp luật độc lập. Quan điểm coi luật môi trường là bộ phận của luật hành chính cũng có hạt nhân hợp lí của nó. Đó là tính chất quản lí nhà nước đối với mọi hoạt động có liên quan đến môi trường. Phần lớn các quy định của luật môi trường đều có mục tiêu là giúp nhà nước quản lí hoật động của cá nhân, tổ chức khi họ tiến hành bất cứ các hoạt động nào có khả năng tác động đến môi trường. Trên thực tế, không có bất cứ hoạt động nào nằm ngoài môi trường cụ thể. Vì vậy, có thể nói rằng xét ở góc độ môi trường thì phạm vi hoạt độhg quản lí nhà nước là hết sức rộng lớn. Tuy nhiên, luật môi trường không nên coi là bộ phận của luật hành chính. Nêu coi luật môi trường là bộ phận của luật hành chính vì ở trong đó yếu tố có quản lí hành chính thì chúng ta có thể coi tất cả các ngành luật đang tồn tại trong hệ thống pháp luật của chúng ta đều là bộ phận của luật hành chính. Quan hệ đất đai, quan hệ lao động, quan hệ hình sự, quan hệ dân sự... đều là những lĩnh vực nằm trong phạm vi của quản lí nhà nước ở góc độ này hay góc độ khác.

Luật môi trường cần được coi là lĩnh vực luật riêng biệt như lĩnh vực luật đất đai, tài chính ngân hàng, hành chính... Quan điểm này xuất phát từ những cơ sở khoa học và thực tiễn của nó. Xem xét tính riêng biệt của luật môi trường từ góc độ lí luận có thể thấy nổi lên các lí do sau:

- Các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực môi trường mà pháp luật cần điều chỉnh đều gắn vói việc bảo vệ, sử dụng hoặc tác động đến một hoặc một vài yếu tố môi trường cụ thể. Mối liên hệ này là mối liên hệ tự nhiên, không phụ thuộc vào các cơ sở xã hội. Các quan hệ của luật môi trường phát sinh giữa các chủ thể không cần đến bất cứ điều kiện tiền đề nào như quan hệ hợp đồng hay quan hệ quản lí, quan hệ sở hữu. Có hay không có sở hữu, có hay không có quyết định xử lí hành chính con người cũng phải tiếp cận với không khí, với nước, với rừng biển và đất.

- Khác với các quan hệ hành chính được điều chỉnh chủ yếu trên cơ sở của nguyên tắc mệnh lệnh, các quan hệ trong lĩnh vực môi trường được điều chỉnh dựa trên sự kết hợp của nhiều nguyên tắc khác nhau, trong đó đặc biệt nổi lên nguyên tắc kích thích lợi ích. Trong hoạt động của mình, các cá nhân, tổ chức thường tác động đến môi trường để tạo ra cho mình những nguồn lợi cao nhất, bất chấp những thiệt hại sẽ xảy ra cho cộng đồng. Những thiệt hại này không hiện hữu ở thời điểm môi trựờng bị tác động nên phản ứng của cộng đồng không gay gắt. Vì vậy, việc dùng những biện pháp hành chính để đỉều chỉnh các quan hệ mồi trường thường không hiệu quả bằng các biện pháp kinh tế, giáo dục.

- Việc xây dựng các chuẩn mực xử sự và theo dõi việc thực hiện các chuẩn mực xử sự của công dân, tổ chức trong lĩnh vực môi trường dựa nhiều vào tiêu chí kĩ thuật, các đặc tính lí hoá của từng yếu tố cụ thể của môi trường. Nói cách khác, quan hệ môi trường gắn chặt với các yếu tố khoa học kĩ thuật hơn so với nhiều loại quan hệ pháp luật khác. Vì vậy, việc xây dựng và áp dụng các quy phạm pháp luật để điều chỉnh những quan hệ xã hội về môi trường có những đặc thù riêng cùa nó.

- Do tính toàn cầu cao của vân đề môi trường nên pháp luật môi trường cũng kế thừa tính chất toàn cầu đó. Trong pháp luật môi trường của chúng ta có rất nhiều khái niệm, nhiều tiêu chuẩn môi trường có nguồn gốc quốc tế dùng để xác định chuẩn mực hợp pháp và không hợp pháp trong xử sự của công dân, tổ chức. Nhiễu định chế quốc tế đã có thể can thiệp được vào các hoạt động thuộc quyền tài phán của quốc gia. Có lẽ ít có trường hợp xuất khẩu loại sản phẩm nào mà các nhà xuất khẩu Việt Nam lại phải xin phép không phải là Bộ công thương Việt Nam mà là một thiết chế được Việt Nam thành lập theo yêu cầu của Công ước quốc tế như việc xuất khẩu động vật hoang dã. Chỉ khi có sự chấp nhận của tổ chức CITES thì các nhà xuất nhập khẩu Việt Nam mới được xuất khẩu động vật hoang dã. Đây là điểm đặc thù khiến cho luật môi trường khó có thể được coi là thuộc lĩnh vực pháp luật hành chính.

Sự phát ưiển của luật môi trường ở một số nước cũng cho thấy tính'riêng biệt (hay tính độc lập tương đối) của lĩnh vực pháp lí này. Ở Mỹ, nơi có sự xuất hiện luật môi trường sớm nhất, nơi có các án lệ liên quan đến việc bồi thường do gây ô nhiễm. Vụ Boomer kiện Công ti Xi măng Atlantic và Vụ Missouri kiện Holland là những ví dụ. Các văn bản pháp luật về môi trường cũng xuất hiện khá sớm so với nhiều nước. Năm 1899, Đạo luật về sông và bến cảng(1) được ban hành để câm việc xà chất thải vào các vùng nước của Mỹ. Các khu bảo tồn, các công viên quốc gia được thành lập ở Mỹ vào những năm cuối của thế kỉ IXX. Những năm 60, 70 của thế kỉ XX, Mỹ chú ttọng rất lớn đến việc phát triển luật môi trường theo xu hướng pháp luật thành văn. Năm 1967, Quốc hội Mỹ ban hành Luật về chất lượng không khí; Luật bảo vệ môi trường liên bang năm 1969; Luật không khí sạch năm 1970; Luật nước sạch; Luật về sản phẩm an toàn năm 1972; Luật kiểm soát tiếng ồn. Nhiều đạo luật khác về môi trường cũng được tiếp tục ban hành và tạo nên một hệ thống pháp luật môi trường đầy đủ và toàn diện bao gồm hầu hết các yếu tố của môi trường. Luật môi trường ở Mỹ được coi là lĩnh vực pháp luật riêng biệt, không nằm trong phạm vi của luật hành chính. Trong các chương trình đào tạo của các trường luật ở Mỹ thì luật môi trường được coi là course học riêng biệt bên cạnh các course học như luật hành chính, luật hình sự, luật thương mại.

Australia cũng là quốc gia có sự phát triển đáng lưu ý về lĩnh vực luật môi trường. Cũng giống như ở Mỹ, luật môi trường ban đầu cũng hình thành từ các án lệ về bồi thường thiệt hại do ô gây ô nhiễm. Các văn bản pháp luật về môi trường ở Austtalia được ban hành chủ yếu vào ba thập kỉ cuối của thế kỉ trước. Trong số những đạo luật quan trọng của chính quyền liên bang về môi trường cần kể đến Luật về bảo vệ môi trường năm 1981; Luật bảo vệ thế giới hoang dã năm 1982; Luật bảo vệ tầng ôzôn năm 1989… Chính quyền các bang cũng ban hành nhiều đạo luật bảo vệ môi trường riêng của mình. Sự phát triển của hoạt động lập pháp cũng như khoa học luật môi trường đã khiến cho luật môi trường ở Australia phát triển mạnh như là một lĩnh vực riêng biệt.

Các cơ sở đào tạo của nước này cũng đưa luật môi trường và thành môn học bắt buộc hoặc tự chọn trong chương trình đào tạo của mình. Tuy nhiên, cũng có thể dễ nhận thấy luật môi trường ở Australia cũng đang trong quá trình phát triển:

“Luật môi trường ngày nay không đơn giản là ở trong giai đoạn định hình mà vân đang còn trong giai đoạn tiến triển”.

Một số nước khác như Singapore, Philippine cũng đều chú trọng phát triển luật môi trường không chỉ ở phương diện lập pháp

mà cả ở phương diện khoa học và đào tạo. Philippine đã ban hành nhiều đạo luật về các yếu tố khác nhau của môi trường vào những năm 80, 90 của thế kỉ trước. Singapore ttong sự phát triển luật

môi trường chịu ảnh hưởng khá sâu của Mỹ, Anh và Australia. Cả

Philippine và Singapore đều coi luật môi trường là lĩnh vực lập

pháp riêng. Còn các cơ sở đào tạo ở các nước này cũng coi luật môi trường như là môn học riêng biệt bên cạnh các môn học khác.

Ở một số nước châu Âu khác như Thụy Điển, Pháp, Đức... luật môi trượng cũng được tiếp cận và phát triển theo xu hướng tương tự.

Luật Minh Khuê (biên tập)

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Khái niệm môi trường là gì?

Trả lời:

Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.

Câu hỏi: Khái niệm thành phần môi trường là gì?

Trả lời:

Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường gồm đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác.

Câu hỏi: Khái niệm hoạt động bảo vệ môi trường là gì?

Trả lời:

Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành.