1. Thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm

1.1 Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm

Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về việc Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm, cụ thể được xác định như sau:

Điều 356. Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm

Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm khi xét thấy các quyết định của bản án sơ thẩm có căn cứ và đúng pháp luật”.

Như vậy khi nhận thấy các các quyết định của bản án sơ thẩm có căn cứ và đúng pháp luật Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền giữ nguyên bản án sơ thẩm và không chấp nhận các kháng cáo và kháng nghị.

1.2 Sửa bản án sơ thẩm

Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể sửa bản sán sơ thẩm theo hướng có lợi hoặc không có lợi cho bị cáo khi có căn cứ xác định bản án sơ thẩm đã tuyên không đúng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo hoặc có tình tiết mới thì Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền sửa bản án sơ thẩm theo hai hướng như sau:

- Sửa bản án sơ thẩm theo hướng có lợi cho bị cáo:

  • Miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho bị cáo; không áp dụng hình phạt bổ sung; không áp dụng biện pháp tư pháp;
  • Áp dụng điều, khoản của Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn;
  •  Giảm hình phạt cho bị cáo;
  • Giảm mức bồi thường thiệt hại và sửa quyết định xử lý vật chứng;
  • Chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn;
  • Giữ nguyên hoặc giảm mức hình phạt tù và cho hưởng án treo.

- Sửa bản án theo hướng không có lợi cho bị cáo:

  • Tăng hình phạt, áp dụng điều, khoản của Bộ luật hình sự về tội nặng hơn; áp dụng hình phạt bổ sung; áp dụng biện pháp tư pháp;
  • Tăng mức bồi thường thiệt hại;
  • Chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nặng hơn;
  • Không cho bị cáo hưởng án treo.

Nếu có căn cứ thì Hội đồng xét xử vẫn có thể giảm hình phạt, áp dụng điều, khoản của Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn, chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo, giảm mức bồi thường thiệt hại.

1.3 Hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại

Việc hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại được quy định tại Điều 358 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, cụ thể Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại trong các trường hợp như sau:

- Có căn cứ cho rằng cấp sơ thẩm bỏ lọt tội phạm, người phạm tội hoặc để khởi tố, điều tra về tội nặng hơn tội đã tuyên trong bản án sơ thẩm. Đối với trường hợp tội phạm bị bỏ lọt tội phạm độc lập, có thể tách riêng biệt với tội phạm đã bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm thì Hội đồng xét xử phúc thẩm không cần hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại mà có thể ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự.

- Việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được. Việc xác định sự thật của vụ án một cách đầy đủ là nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự. Việc hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại trong trường hợp này phải thỏa mãn hai điều kiện như sau:

  • Việc điều tra ở cấp sơ thẩm là không đầy đủ;
  • Cấp phúc thẩm không thể bổ sung được các tài liệu, chứng cứ mà việc điều tra ở cấp phúc thẩm còn thiếu sót.

- Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố.

Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại ở cấp sơ thẩm với thành phần Hội đồng xét xử mới trong những trường hợp sau đây:

- Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng thành phần mà Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định. Đó là trưởng hợp Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng về số lượng và cơ cấu thành phần theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự;

- Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm;

- Người được Tòa án cấp sơ thẩm tuyên không có tội nhưng có căn cứ cho rằng người đó đã phạm tội. Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo không có tội nhưng Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm có căn cứ cho rằng người đó phạm tội thì phải hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại, bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo đối với việc bị tuyên là có tội;

- Miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hoặc áp dụng biện pháp tư pháp đối với bị cáo không có căn cứ;

- Bản án sơ thẩm có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật nhưng không thuộc trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Khi hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại, Hội đồng xét xử phúc thẩm phải ghi rõ lý do của việc hủy bản án sơ thẩm. Khi hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại, Hội đồng xét xử phúc thẩm không quyết định trước những chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm cần phải chấp nhận hoặc cần phải bác bỏ, cũng như không quyết định trước về điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự cần áp dụng và hình phạt đối với bị cáo.

Trường hợp hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại mà thời hạn tạm giam đối với bị cáo đã hết và xét thấy cần phải tiếp tục tạm giam bị cáo thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo cho đến khi Viện kiểm sát hoặc Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý lại vụ án.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên hủy bản án sơ thẩm, hồ sơ vụ án phải được chuyển cho Viện kiểm sát hoặc Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

1.4 Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án

Việc hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án được quy định tại Điều 359 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, cụ thể được xác định như sau:

- Hủy bản án sơ thẩm, tuyên bị cáo không có tội cà đình chỉ vụ án: Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, tuyên bị cáo không có tội và đình chỉ khi có căn cứ không có sự việc phạm tội hoặc hành vi của bị cáo không cấu thành tội phạm theo quy định tại Khoản 1, 2 Điều 157 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Điều 157. Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự

Không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong các căn cứ sau:

1. Không có sự việc phạm tội;

2. Hành vi không cấu thành tội phạm”.

- Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án. Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án khi có một trong các căn cứ sau:

  • Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;
  • Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án đã có hiệu lực pháp luật;
  • Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
  • Tội phạm đã được đại;
  • Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết.

Tùy từng trường hợp, Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, đình chỉ toàn bộ vụ án hoặc chỉ hủy một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án về phần đã bị hủy.

1.5 Đình chỉ xét xử phúc thẩm

Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với vụ án trong trường hợp tại phiên tòa phúc thẩm người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo, Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị theo quy định tại Khoản 1 Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Điều 348. Đình chỉ xét xử phúc thẩm

1. Tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với vụ án mà người kháng cáo đã rút toàn bộ kháng cáo, Viện kiểm sát đã rút toàn bộ kháng nghị. Việc đình chỉ xét xử phúc thẩm trước khi mở phiên tòa do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyết định, tại phiên tòa do Hội đồng xét xử quyết định. Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm”.

Đối với trường hợp người kháng cáo rút một phần kháng cáo, Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị tại phiên tòa mà Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị khác thì Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận đình về việc rút kháng cáo, kháng nghị và quyết định xét xử phần kháng cáo, kháng nghị không bị rút trong bản án sơ thẩm đó.

2. Thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm đối với quyết định sơ thẩm

Điều 361 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm đối với quyết định sơ thẩm, cụ thể Hội đồng xét xử phúc thẩm có các quyền như sau:

- Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm khi xét thấy các quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có căn cứ và đúng pháp luật. Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyết định không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm khi Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm có căn cứ xét thấy các quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm hoàn toàn có căn cứ và đúng theo quy định của pháp luật.

- Sửa quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm. Hội đồng xét xử phúc thẩm có thẩm quyền quyết định sửa quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm khi xét thấy quyết định này không có căn cứ, không đúng theo quy định của pháp luật nhưng lại không cần thiết phải hủy quyết định đó, chuyển hồ sơ vụ án cho tòa án cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết vụ án.

- Hủy quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định hủy quyết định quyết định của Tòa án caaspsow thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết vụ án khi xét thấy quyết định này khoongc ó căn cứ, không đúng theo quy định của pháp luật nhưng không thể sửa quyết định đó tại phiên họp phúc thẩm.

Luật Minh Khuê