1. Thủ tục phúc thẩm vụ án hình sự

Trước khi xét hỏi, một thành viên của hội đồng xét xử trình bày tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung kháng cáo, kháng nghị. Chủ toạ phiên toà hỏi người kháng cáo có thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo không. Trong trường hợp người kháng cáo thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo thì chủ toạ phiên toà yêu cầu kiểm sát viên trình bày ý kiến về việc đó.

Chủ toạ phiên toà hỏi kiểm sát viên có thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị không. Trường hợp viện kiểm sát thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị thì chủ toạ phiên toà yêu cầu bị cáo và những người liên quan đến kháng nghị trình bày ý kiến về việc đó. Khi tranh tụng tại phiên toà, kiểm sát viên và người liên quan đến kháng cáo, kháng nghị phát biểu ý kiến về nội dung kháng cạo, kháng nghị; kiểm sát viên phát biểu quan điểm của viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án.

Kiểm sát viên phải đối đáp, tranh luận tất cả những ý kiến có liên quan đến nội dung kháng cáo, kháng nghị mà người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác nêu ra nhằm làm sáng tỏ sự thật, ghi nhận ý kiến đúng, bác bỏ ý kiên không đúng của họ, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật và lập luận để đối đáp đến cùng đối với từng ý kiến (Điều 44 Quy chế thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xù vụ án hình sự (ban hành kèm theo Quyết định số 505/QĐ-VKSTC ngày 18/12/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao).

2. Thẩm quyền của hội đồng xét xử phúc thẩm đổi với bản án sơ thẩm hình sự

Khi xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm do có kháng cáo hoặc kháng nghị đối với bản án sơ thẩm, hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền: không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm; sửa bản án sơ thẩm; huỷ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại hoặc xét xử lại; huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án; đình chỉ việc xét xử phúc thẩm.

2.1 Không chấp nhận kháng cảo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm

Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm khi xét thấy các quyết định của bản án sơ thẩm có căn cứ và đúng pháp luật. Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị, nếu xét thấy bản án sơ thẩm có căn cứ và hợp pháp thì không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm (Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015).

>> Xem thêm:  Khái niệm, nhiệm vụ, ý nghĩa của xét xử phúc thẩm vụ án hình sự ?

2.2 Sửa bản án sơ thẩm

Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể sửa bản án sơ thẩm theo hướng có lợi hoặc không có lợi cho bị cáo (Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015).

- Sửa bản án sơ thẩm theo hướng có lợi cho bị cáo:

Các trường hợp sửa bản án sơ thẩm theo hướng có lợi cho bị cáo: toà án cấp phúc thẩm có quyền miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho bị cáo; không áp dụng hình phạt bổ sung; không áp dụng biện pháp tư pháp; áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 về tội nhẹ hơn (Nếu toà án cấp phúc thẩm áp dụng điều khoản của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 về tội nhẹ hơn mà vẫn giữ nguyên mức hình phạt thì cũng coi là sửa bản án sơ thẩm theo hướng nhẹ hơn đối với bị cáo); giảm hình phạt cho bị cáo; giảm mức bồi thường thiệt hại và sửa quyết định xử lí vật chứng (Toà án cấp phúc thẩm cũng có thể sửa quyết định xử lí vật chứng theo hướng không có lợi cho bị cáo mà không phụ thuộc vào phạm vi và hướng kháng cáo, kháng nghị); chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn; giữ nguyên hoặc giảm mức hình phạt tù và cho bị cáo hưởng án treo.

Căn cứ sửa bản án sơ thẩm theo hướng có lợi cho bị cáo: Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng có lợi cho bị cáo trong các trường hợp nói trên khi có căn cứ xác định bản án sơ thẩm đã tuyên không đúng vói tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo hoặc có tình tiết mới.

Điều kiện sửa bản án sơ thẩm theo hướng có lợi cho bị cáo: Khi sửa bản án theo hướng có lợi cho bị cáo, toà án cấp phúc thẩm không bị ràng buộc bởi phạm vi và hướng kháng cáo, kháng nghị. Việc sửa bản án theo hướng có lợi cho bị cáo được tiến hành khi có kháng cáo, kháng nghị theo hướng giảm nhẹ hoặc tăng nặng, kể cả khi tất cả các kháng cáo, kháng nghị đều theo hướng tăng nặng. Nếu có căn cứ, toà án cấp phúc thẩm vẫn có thể miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, không áp dụng hình phạt bổ sung, không áp dụng biện pháp tư pháp, áp dụng điều, khoản Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 về tội nhẹ hơn, giảm hình phạt, giảm mức bồi thường thiệt hại, sửa quyết định xử lí vật chứng, chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn, giữ nguyên hoặc giảm mức hình phạt tù và cho hưởng án treo cho những bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị.

- Sửa bản án sơ thẩm theo hướng không có lợi cho bị cáo:

Các trường hợp sửa bản án sơ thẩm theo hướng không có lợi cho bị cáo: Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể tăng hình phạt, áp dụng điều, khoản Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 về tội nặng hơn; áp dựng hình phạt bổ sung; áp dụng biện pháp tư pháp; tăng mức bồi thường thiệt hại; chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nặng hơn; không cho bị cáo hưởng án treo.

Điều kiện sửa bản án sơ thẩm theo hướng không có lợi cho bị cáo: Việc sửa bản án theo hướng không có lợi cho bị cáo dẫn đến việc làm xấu hơn tình trạng của bị cáo nên cần phải có những điều kiện để bảo đảm quyên bào chữa của họ. Vì vậy, việc sửa bản án theo hướng không có lợi cho bị cáo chỉ được thực hiện khi có những điều kiện theo quy định của pháp luật. Điều kiện sửa bản án theo hướng không có lợi cho bị cáo được quy định chặt chẽ không chỉ về hướng kháng cáo, kháng nghị mà cả về chủ thể kháng cáo, kháng nghị. Chỉ khi viện kiểm sát kháng nghị hoặc bị hại kháng cáo yêu cầu và có căn cứ thì toà án cấp phúc thẩm mới có thể tăng hình phạt, áp dụng điều, khoản Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 về tội nặng hơn, áp dụng hình phạt bổ sung, áp dụng biện pháp tư pháp, tăng mức bồi thường thiệt hại, chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nặng hơn, không cho bị cáo hưởng án treo.

Khi sửa bản án theo hướng không có lợi cho bị cáo cần chú ý không được vượt quá nội dung yêu cầu của kháng cáo, kháng nghị. Neu kháng cáo, kháng nghị chỉ yêu cầu tăng mức hình phạt thì chỉ được tăng hình phạt trong giới hạn của khung hình phạt toà án cấp sơ thẩm đã tuyên, không được áp dụng điều, khoản Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 về tội nặng hơn.

Toà án cấp phúc thẩm không buộc phải xét xử theo hướng tăng nặng của kháng cáo, kháng nghị. Mặc dù viện kiểm sát kháng nghị hoặc bị hại kháng cáo yêu cầu nhưng nếu có căn cứ hội đồng xét xử vẫn có thể giảm hình phạt, áp dụng điều, khoản Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 về tội nhẹ hơn, chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo, giảm mức bồi thường thiệt hại.

>> Xem thêm:  Đối tượng, chủ thể và phạm vi của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự ?

2.3 Huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại

- Huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại (Điều 358 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015):

Hội đồng xét xử phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại trong các trường hợp sau đây:

+ Có căn cứ cho rằng cấp sơ thẩm bỏ lọt tội phạm, người phạm tội hoặc để khởi tố, điều tra về tội nặng hơn tội đã tuyên trong bản án sơ thẩm. Trong trường hợp có căn cứ khởi tố, điều tra về tội nặng hơn tội đã tuyên trong bản án sơ thẩm, hội đồng xét xử phúc thẩm chỉ được huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại nếu không thể sửa bản án sơ thẩm, áp dụng điều của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 về tội nặng hơn theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được. Việc điều tra được coi là không đầy đủ nếu dựa vào kết quả điều tra đó thì không đủ cơ sở để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ như: không lấy lời khai của những người mà lời khai của họ có ý nghĩa quan trọng đối với vụ án; không tiến hành giám định trong trường hợp luật định bắt buộc phải trưng cầu giám định; không thu thập đầy đủ vật chứng có ý nghĩa quan trọng đối với vụ án, các tình tiết quan trọng về nhân thân bị can... Việc huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại phải đảm bảo hai điều kiện là việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ và cấp phúc thẩm không thể bổ sung được.

+ Có vi phạm nghiêm họng thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố. Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố là việc cơ quan, người có thẩm quyên tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định và đã xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích họp pháp của người tham gia tố tụng hoặc làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án.

- Huỷ bản án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại:

Hội đồng xét xử phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm để xét xử lại ở cấp sơ thẩm với thành phần hội đồng xét xử mới trong những trường hợp sau đây:

+ Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng thành phần mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định: Đó là trường hợp hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng về số lượng và cơ cấu thành phần theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự như: hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án có bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định mức cao nhất của khung hình phạt là tù chung thân, tử hình không đúng thành phần bắt buộc là 2 thẩm phán và 3 hội thẩm (Xem: Khoản 1 Điều 254 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015); hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án có bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi không đúng thành phần bắt buộc phải có 1 hội thẩm là giáo viên hoặc cán bộ đoàn thanh niên hoặc người có kinh nghiệm, hiểu biết tâm lí người dưới 18 tuổi (Xem: Khoản 1 Điều 423 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015)...

+ Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm: Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm là việc cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình xét xử sơ thẩm không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định và đã xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng hoặc làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án (Xem: Điểm o khoản 1 Điều 4 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015).

>> Xem thêm:  Những quyết định thuộc thẩm quyền toà án trong khi chuẩn bị xét xử ?

+ Người được toà án cấp sơ thẩm tuyên không có tội nhưng có căn cứ cho rằng người đó đã phạm tội: Trong trường hợp toà án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo không có tội nhưng hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ cho rằng người đó đã phạm tội thì không được sửa bản án sơ thẩm mà phải huỷ bản án sơ thẩm để xét xử lại, bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo đối với việc bị tuyên là có tội.

+ Miễn ưách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hoặc áp dụng biện pháp tư pháp đối với bị cáo không có căn cứ: Trong trường hợp toà án cấp sơ thẩm miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt không có căn cứ thì hội đồng xét xử phúc thẩm không được sửa bản án sơ thẩm mà phải huỷ bản án sơ thẩm để xét xử lại, bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo đối với việc bị áp dụng trách nhiệm hình sự, áp dụng hình phạt Trong trường hợp toà án cấp sơ thẩm áp dụng biện pháp tư pháp không có căn cứ, nếu hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không cần thiết phải áp dụng biện pháp tư pháp thì sửa bản án sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự chứ không cần phải huỷ bản án sơ thẩm để xét xử lại.

+ Bản án sơ thẩm có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật nhưng không thuộc trường hợp hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án theo quy định tại Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử phúc thẩm chỉ được huỷ bản án để xét xử lại nếu những sai lầm nghiêm trọng của toà án cấp sơ thẩm trong việc áp dụng pháp luật không thể khắc phục bằng việc sửa bản án sơ thẩm.

Khi huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại, hội đồng xét xử phúc thẩm phải ghi rõ lí do của việc huỷ bản án sơ thẩm. Đe bảo đảm sự độc lập xét xử của toà án cấp sơ thẩm, khi huỷ bản án sơ thẩm để xét xử lại, hội đồng xét xử phúc thẩm không quyết định trước những chứng cứ mà toà án cấp sơ thẩm cần phải chấp nhận hoặc cần phải bác bỏ, cũng như không quyết định trước về điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 cần áp dụng và hình phạt đối với bị cáo. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên huỷ bản án sơ thẩm, hồ sơ vụ án phải được chuyển cho viện kiểm sát hoặc toà án cấp sơ thẩm để giải quyết theo thủ tục chung. Việc điều tra, truy tố, xét xử lại vụ án được tiến hành theo thủ tục chung.

2.4 Huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án

- Huỷ bản án sơ thẩm, tuyên bị cáo không có tội và đình chỉ vụ án (Điều 359 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015):

Hội đồng xét xử phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm, tuyên bị cáo không có tội và đình chỉ vụ án khi có căn cứ không có sự việc phạm tội hoặc hành vi của bị cáo không cấu thành tội phạm. Phúc thẩm là một cấp xét xử, có quyền ra bản án hình sự xác định bị cáo có phạm tội hay không. Vì vậy, trong trường hợp toà án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo có tội nhưng hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ không có sự việc phạm tội hoặc hành vi của bị cáo không cấu thành tội phạm thì ngoài việc huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án, hội đồng xét xử phúc thẩm còn phải tuyên bị cáo không có tội để bảo đảm khôi phục danh dự và quyền lợi cho bị cáo.

- Huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án:

Hội đồng xét xử phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án khi có một trong các căn cứ sau: người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; tội phạm đã được đại xá; người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết.

Tuỳ từng trường hợp, hội đồng xét xử phúc thẩm có thể huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm, đình chỉ toàn bộ vụ án hoặc chỉ huỷ một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án về phần đã bị huỷ.

>> Xem thêm:  Thủ tục phúc thẩm quyết định xét đơn yêu cầu công nhận, không công nhận bản án, quyết định dân sự của tòa án, trọng tài nước ngoài

2.5 Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm

Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với vụ án trong trường hợp tại phiên toà phúc thẩm người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo, viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị (Xem: Khoản 1 Điệu 348 Bộ luật tố tụng hình sự).

Trong trường hợp người kháng cáo rút một phần kháng cáo, viện kiểm sát rút một phần kháng nghị tại phiên toà mà xét thấy không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị khác thì hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định về việc rút một phần kháng cáo, kháng nghị và quyết định đình chỉ xét xử phần kháng cáo, kháng nghị đó trong bản án phúc thẩm (Xem: Khoản 3 Điều 342 Bộ luật tố tụng hình sự).

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến luật hình sự, luật tố tụng hình sự - Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh KHuê

>> Xem thêm:  Phúc thẩm là gì ? Quy định pháp luật về xét xử phúc thẩm vụ án dân sự ?