Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn như sau:

1. Cơ sở pháp lý

- Bộ luật dân sự năm 2005

- Bộ luật hình sự năm 1999 ( sửa đổi, bổ sung năm 2009 )

2. Nội dung phân tích

Xin luật sư tư vấn;vợ chồng tôi có thế chấp tài sản nhà, đất ở vay NH. nhưng nay do suy thoái tôi không trả được đã mấy năm ko thấy NH nhắc đôn đốc.Vậy khi bị thu hồi nợ toàn bộ tài sản nhà ở, trong khi tài sản đó là của bố mẹ để lại, gia đình bố mẹ tôi có được chế độ an sinh không .Hay toàn bộ gia đinh phải đi ở nhờ. Luật sư tư vấn xin cảm ơn.

 Đối với trường hợp thu hồi toàn bộ đất ở được quy định như sau:

Điều 95. Kê biên nhà ở

1. Việc kê biên nhà ở là nơi ở duy nhất của người phải thi hành án và gia đình chỉ được thực hiện sau khi xác định người đó không có các tài sản khác hoặc có nhưng không đủ để thi hành án, trừ trường hợp người phải thi hành án đồng ý kê biên nhà ở để thi hành án.

2. Khi kê biên nhà ở phải kê biên cả quyền sử dụng đất gắn liền với nhà ở. Trường hợp nhà ở gắn liền với đất thuộc quyền sử dụng của người khác thì Chấp hành viên chỉ kê biên nhà ở và quyền sử dụng đất để thi hành án nếu người có quyền sử dụng đất đồng ý. Trường hợp người có quyền sử dụng đất không đồng ý thì chỉ kê biên nhà ở của người phải thi hành án, nếu việc tách rời nhà ở và đất không làm giảm đáng kể giá trị căn nhà.

3. Khi kê biên nhà ở của người phải thi hành án đang cho thuê, cho ở nhờ thì Chấp hành viên phải thông báo ngay cho người đang thuê, đang ở nhờ biết.

Trường hợp tài sản kê biên là nhà ở, cửa hàng đang cho thuê được bán đấu giá mà thời hạn thuê hoặc thời hạn lưu cư vẫn còn thì người thuê có quyền tiếp tục được thuê hoặc lưu cư theo quy định của Bộ luật dân sự.

4. Việc kê biên nhà ở bị khóa được thực hiện theo quy định tại Điều 93 của Luật này."

Như vậy, trong trường hợp này nếu tài sản bị kê biên là nơi ở duy nhất của gia đình bạn và gia đình bạn không có các tài sản khác hoặc có nhưng không đủ để thi hành án thì gia đình bạn không cần phải di chuyển chỗ ở

xin chào luật sư. tôi có cho một người vay số tiền 300tr , những viết giấy tay, họ có cầm tôi miếng đất, có công chứng trong vòng 1 năm, nhung nay quá han 2 năm mà họ chưa thanh toán cho tôi, trong thời gian đó họ có mượn lại tôi giấy tờ đất đó để làm thủ tục bán trả nợ tôi, nhưng có giấy tờ họ lại mang thế chấp người khác . nhưng không trả cho tôi. xin hỏi luật sư trường hợp như vậy tôi phải làm thế nào để thu hồi nợ. xin cam ơn!

 Trong trường hợp này bạn có thể thực hiện thủ tục khởi kiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 như sau:

Hồ sơ khởi kiện:

Hồ sơ khởi kiện tại Tòa án bao gồm:

- Đơn khởi kiện (theo mẫu);

- Các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp (ví dụ: hồ sơ nhà đất, hợp đồng vay nợ, giấy vay nợ, di chúc…);

- Chứng minh thư nhân dân, hộ khẩu gia đình (có chứng thực hoặc công chứng), nếu người khởi kiện là cá nhân;

- Hồ sơ pháp lý khác của người khởi kiện, đương sự khác như: giấy phép kinh doanh, giấy chứng đăng ký kinh doanh, quyết định thành lập doanh nghiệp, điều lệ hoạt động, quyết định bổ nhiệm hoặc cử người đại diện doanh nghiệp (bản sao có chứng thực), nếu là pháp nhân;

- Bản kê các tài liệu nộp kèm theo đơn khởi kiện (ghi rõ số lượng bản chính, bản sao);

Bạn nộp hồ sơ khởi kiện tại Tòa án cấp huyện nơi bạn cư trú hoặc nơi bị đơn cư trú sẽ có thẩm quyền giải quyết.

 Mức án phí dân sự sơ thẩm

a. Mức án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự phúc thẩm đối với các vụ án về tranh chấp dân sự không có giá ngạch là 200.000 đồng

b. Mức án phí sơ thẩm đối với các vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch:

Giá trị tài sản có tranh chấp

Mức án phí

a) Từ 4.000.000 đồng trở xuống

200.000 đồng

b) Từ trên 4.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng

5% giá trị tài sản có tranh chấp

c) Từ trên 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng

20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng

d) Từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng

36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 800.000.000 đồng

đ) Từ trên 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng

72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 2.000.000.000 đồng

e) Từ trên 4.000.000.000 đồng

112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 4.000.000.000 đồng.

Thời hạn giải quyết:

- Thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là 4 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án. Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì được gia hạn thời gian chuẩn bị xét xử thêm 2 tháng.

- Thời hạn mở phiên tòa là 1 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm. Trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 2 tháng.

Thưa luật sư. Cho em hỏi nếu trong trường hợp gia đình mà hai vợ chồng cùng sở hữu mảnh đất. đều đồng ý cho người em trai mượn để thế chấp. tuy nhiên người anh đã bị đi tù vậy liệu mảnh đất còn có thể mang đi thế chấp vào ngân hàng để cho người em vay hay không ?

Việc vợ chồng đồng ý sử dụng tài sản thuộc sở hữu chung cho một cá nhân khác thực hiện thế chấp tại ngân hàng được hiểu là hoạt động vay nợ có bảo lãnh. Như vậy, việc người anh phải chấp hành hình phạt tù không ảnh hưởng tới nghĩa vụ dân sự vay nợ. Trong trường hợp người anh không trả được nợ thì việc xử lý tài sản bảo lãnh được quy định như sau:

" Điều 369. Xử lý tài sản của bên bảo lãnh

Trong trường hợp đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh, mà bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải đưa tài sản thuộc sở hữu của mình để thanh toán cho bên nhận bảo lãnh."

Thư hỏi tư vấn luật. Vay ngân hàng. Xin chào luật Minh Khuê! Tôi có vấn đề muốn nhờ sự tư vấn của luật sư như sau: Vợ chồng chị họ của tôi thuộc diện nợ xấu của ngân hàng. Nhưng vì muốn mở rộng việc làm ăn nên có nhờ tôi đứng tên chu hợp đồng khoản vay với ngân hàng. Tài sản thế chấp là mảnh đất đang đứng tên của vợ chồng anh chị họ của tôi. Thủ tục vay vốn tiến hành đúng quy định. Tôi là người vay và tài sản the chap vay là mảnh đất của vợ chồng anh chị tôi. Sau khi vay, vợ chồng anh chị tôi sở hữu toan bo số tiền đó, nhưng do mâu thuẫn đến hạn nhưng anh chị tôi ko tất toán khoan vay cho ngân hàng. Giữa tôi và vợ chồng anh chị tôi không có bất kỳ giấy tờ thoả thuận nào khác. Kính mong luật sư tư vấn giúp tôi xem là: Nếu tôi cũng không tất toán cho ngân hàng khoản vay kia thì tôi có bị hệ luỵ gì? Vợ chồng anh chị họ của tôi có bi liên đới gì không? Và bây giờ tôi phải giải quyết vấn đề này như thế nào cho đúng pháp luật. Xin cảm ơn luật sư! 

Bạn là chủ hợp đồng vay nợ nhưng tài sản thế chấp lại là tài sản thuộc sở hữu của anh chị bạn. Vì vậy, đây là một trong những giao dịch dân sự có bảo đảm thông qua hoạt động bảo lãnh. Cụ thể, Bộ luật dân sự năm 2005 quy định như sau:

" Điều 361. Bảo lãnh

Bảo lãnh là việc người thứ ba (say đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình."

Như vậy, nếu đến thời hạn trả nợ mà bạn là chủ thể vay không thể hoàn thành nghĩa vụ dân sự thì bên bảo lãnh là anh chị họ bạn phải dùng tài sản đã dùng để bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại nghị định 11/2012/NĐ-CP như sau:

" Điều 47. Xử lý tài sản của bên bảo lãnh

Việc xử lý tài sản của bên bảo lãnh theo quy định tại Điều 369 Bộ luật Dân sự được thực hiện như sau:

1. Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về việc cầm cố, thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thì tài sản cầm cố, thế chấp được xử lý theo quy định tại Chương IV của Nghị định này.

2. Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về việc cầm cố, thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thì bên bảo lãnh phải giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho bên nhận bảo lãnh xử lý theo yêu cầu của bên nhận bảo lãnh, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Nếu bên bảo lãnh không giao tài sản thì bên nhận bảo lãnh có quyền khởi kiện theo quy định của pháp luật.

3. Tại thời điểm xử lý tài sản của bên bảo lãnh nếu bên bảo lãnh không có tài sản để xử lý hoặc khoản tiền thu được từ việc xử lý tài sản không đủ thanh toán nghĩa vụ được bảo lãnh thì trong phạm vi nghĩa vụ được bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên bảo lãnh phải giao tài sản có được sau thời điểm xử lý cho mình để tiếp tục xử lý."

Xin chào luật sư, tôi có khó khăn muốn nhờ luật sư tư vấn. sự việc là thế này, tôi có một anh hàng xóm chơi thân hơn 10 năm, khoảng 30 ngày trước anh ấy mượn tôi 30triệu để làm ăn và bảo 2tháng trả, vì thân quen nên tôi cho mượn mà không hề có giấy tờ chứng nhận hay tài sản thế chấp, 7ngày sau anh ấy mượn tôi tiếp 10triệu bảo 20ngày sau trả, sau khi hỏi ý bà xã tôi cũng đã cho anh mượn mà không bắt anh thế chấp và kí giấy tờ gì. 2hôm trước tôi đã phát hiện anh trốn và ôm hết tiền,qua nhà anh thì vợ anh cũng khóc lóc bảo anh theo gái lấy hết tiền của nhà đi nhưng không chỉ vậy còn rất nhiều hàng xóm bị anh lừa và số tiền đã lên đên 180triệu vậy xin thưa luật sư, chúng tôi có thể kiện anh ta không? và phải làm như thế nào?? rất mong sự hồi đáp của luật sư. tôi chân thành cảm ơn

 Hành vi của người vay tiền đã thể hiện đầy đủ cấu thành tội phạm quy định tại Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999 ( sửa đổi, bổ sung năm 2009) như sau:

" Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưnggây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này."

Như vậy, các chủ thể bị hại có thể cùng viết đơn tố cáo hành vi này tới cơ quan, tổ chức bất kỳ để có thể giải quyết và đảm bảo quyền lợi

 Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật hình sự