Có giấy xác nhận đã nhận tiền và cam kết hoàn trả nếu không làm được. Xong sự việc đã không như dự định mà vợ chồng chị đó chỉ nhận tiền rồi tiêu xài. Nay e yêu cầu huỷ không xin chuyển công tác nữa và đòi lại số tiền trên. Nhưng vợ chồng chị đó đã k gửi lại. Nay e gửi đơn kiện . E xin hỏi : Nếu đưa ra pháp luật vợ chồng e có phạm tội hối lộ k? Khi chồng e làm nghành X mà vợ chồng chị nhận tiền làm nghành Y. K liên quan nghề nghiệp với nhau chỉ giao dịch với nhau vào sự tin tưởng. Và em sẽ kiện vợ chồng chị đó tội gì cho phù hợp?. Rất mong được văn phòng giải đáp.

Em xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật dân sự của công ty luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

 

 1. Cơ sở pháp lý

Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009

2. Nội dung tư vấn

>> Xem thêm:  Tư vấn về lấy lại tiền chạy việc ?

Căn cứ quy định tại Bộ luật hình sự năm 1999 thì: 

" Điều 289. Tội đưa hối lộ

1. Người nào đưa hối lộ mà của hối lộ có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm nhiều lần,  thì bị phạt tù từ một năm đến sáu năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ sáu năm đến mười ba năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

c) Dùng tài sản của Nhà nước để đưa hối lộ;

d) Phạm tội nhiều lần;

đ) Của hối lộ có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới năm  mươi triệu đồng;

e ) Gây hậu quả nghiêm trọng khác.

>> Xem thêm:  Nhận tiền chạy việc xử lý ra sao ?

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười ba năm đến hai mươi năm:

a) Của hối lộ có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng khác.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm hoặc  tù chung thân: 

a) Của hối lộ có giá trị từ ba trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần giá trị của hối lộ.

6. Người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.

Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được  trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ". 

Như vậy, vợ chồng bạn chỉ phạm tội đưa hối lộ khi:  của hối lộ có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm nhiều lần. Gây hậu quả nghiêm trọng là trường hợp gây ra thiệt hại đáng kể cho hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội. Vi phạm nhiều lần là trường hợp đưa hối lộ từ hai lần trở lên mà mỗi lần của hối lộ đều có giá trị dưới 2 triệu đồng. Trường hợp người có chức vụ, quyền hạn và người đưa hối lộ thỏa thuận được về của hối lộ cũng như về việc làm hoặc không làm theo yêu cầu của người đưa hối lộ thì người đưa hối lộ cũng được coi là phạm tội đưa hối lộ. Do đó, hành vi đưa hối lộ 70 triệu của vợ chồng bạn không gây hậu quả nghiêm trọng cũng như mục đích của việc đưa hối lộ chưa đạt được và chỉ có thể bị xử phạt vi phạm hành chính. 

>> Xem thêm:  Cách xử lý trường hợp chạy việc cho con nhưng không có kết quả?

Căn cứ quy định tại điều 140, Luật hình sự năm 1999 thì: 

" Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây  chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

  a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian  dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

  b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó  vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

>> Xem thêm:  Có được kiện không khi cho vay mà không lấy lại được tiền ?

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b)  Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này". 

Như vây, vợ chồng chị muốn kiện vợ chồng chị kia để đòi lại tiền thì có thể kiện tội lạm dụng tín nhiệm tài sản vì: vợ chồng chị kia có được tài sản là ' tiền"  một cách hợp pháp thông qua  hợp đồng cam kết xin việc cho chồng bạn nhưng sau khi có được tài sản, vợ chồng chị kia không thực hiện như cam kết trong hợp đồng. 

>> Xem thêm:  Có đòi được tiền xin việc khi không có văn bản giấy tờ làm chứng ?

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Luật sư Dân sự

>> Xem thêm:  Nhận tiền chaỵ việc nhưng không được việc và người nhận tiền không trả lại tiền ?