1. Thể nhân là gì?

Thể nhân là khái niệm của Luật học, với ý nghĩa là cá nhân, con người cụ thể, được pháp luật công nhận từ khi sinh ra cho đến khi mất đi với tư cách là một cá nhân trước pháp luật và xã hội, được hưởng các quyền lợi kèm theo đó là các nghĩa vụ, nhận được sự bảo vệ từ pháp luật.

Trong các văn bản pháp luật của Việt Nam hiện nay có thể kể đến như Bộ luật Dân sự 2015 không sử dụng khái niệm "thể nhân" mà thay vào đó là khái niệm "cá nhân". Cá nhân là chủ thể phổ biến của các giao dịch dân sự. Theo đó, cá nhân bao gồm: công dân có quốc tịch Việt Nam, người nước ngoài và người không có quốc tịch.

 

2. Năng lực hành vi dân sự của thể nhân theo quy định của pháp luật

Trong các quan hệ pháp luật, năng lực chủ thể của thể nhân được tạo bởi năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự. 

Năng lực hành vi dân sự của thể nhân được biểu hiện cụ thể nhất thông qua hành vi. Hành vi được hiểu là xử sự của con người dưới dạng hành động hoặc không hành động trong một trường hợp cụ thể.

Điều 19 Bộ luật Dân sự 2015: 

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.

Năng lực hành vi dân sự của thể nhân (cá nhân) không có được từ khi cá nhân được sinh ra mà nó xuất hiện khi khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của cá nhân đạt đến một độ nhất định. Thông thường thể hiện ở độ tuổi. 

Ví dụ: Khi còn bé, hành vi của các em bé đều vô thức và không thể tự kiểm soát hành vi của mình nên hay khóc lớn, ngậm đồ chơi, nhặt và ăn bất cứ thứ gì...Trong quá trình phát triển, học tập thì các bé lớn lên thành con người trưởng thành, sẽ dần dần kiểm soát được bản thân. Mọi hành động đều có quy củ hơn, kiểm soát tốt hơn cảm xúc lẫn các hành vi biểu hiện cơ thể. 

Chính vì vậy, việc quy định về độ tuổi để xác định năng lực hành vi dân sự là cần thiết bởi quá trình phát triển nhân cách, tính cách con người cần có thời gian nhất định. Khi cá nhân có khả năng kiểm soát hành vi của mình thì hành vi đó mới là hành vi của xã hội và cần thiết chịu sự điều chỉnh của pháp luật. 

Căn cứ vào khả năng của cá nhân về nhận thức, điều khiển hành vi và hậu quả của hành vi, pháp luật phân biệt mức độ năng lực hành vi dân sự của thể nhân (cá nhân) cụ thể như sau:

 

2.1. Năng lực hành vi dân sự đầy đủ

Điều 20. Người thành niên (Bộ luật Dân sự 2015)

1. Người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên.

2. Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại các Điều 22, 23, và 24 của Bộ luật này.

Người thành niên (từ đủ 18 tuổi trở lên) có khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của mình có quyền tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự một cách độc lập và tự chịu trách nhiệm về những hành vi do họ thực hiện.

Thể nhân (cá nhân) được coi là người có năng lực hành vi dân sự phải đáp ứng các yêu cầu sau:

  • Từ đủ 18 tuổi trở lên
  • Có điều kiện thể chất và tinh thần đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi
  • Không mắc các bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi
  • Không nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình.

Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ bao gồm các cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên và không bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. 

 

2.2. Năng lực hành vi dân sự một phần

Thể nhân (cá nhân) từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi là những người có năng lực hành vi dân sự một phần và chỉ có thể xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình trong một giới hạn nhất định do pháp luật dân sự quy định. Người này được xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi, còn với những giao dịch khác phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật (Điều 21 Bộ luật Dân sự 2015). Cụ thể:

  • Giao dịch dân sự của người chưa đủ 6 tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện.
  • Người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.
  • Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi tự mình xác lập. thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo luật định phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý. 

Quy định này tạo điều kiện cho cá nhân khi có đủ tài sản thực hiện nghĩa vụ có thể chủ động, độc lập giao kết hợp đồng mà không phải phụ thuộc vào người đại diện, cho dù cá nhân lúc này vẫn chưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. 

 

2.3. Mất năng lực hành vi dân sự

Một người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức hữu quan và dựa trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định pháp y tâm thần, Tòa án sẽ ra quyết định tuyên bố người này bị mất năng lực hành vi dân sự (Điều 22 Bộ luật Dân sự 2015).

Mọi giao dịch của người mất năng lực hành vi dân sự đều do người đại diện theo pháp luật của họ xác lập và thực hiện.

Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự khi:

  • Không có căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
  • Có yêu cầu của chính người bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan.

 

2.4. Hạn chế năng lực hành vi dân sự

Những người nghiện ma túy hoặc nghiện các chất kích thích khác dẫn đến việc phá tán tài sản gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích có liên quan, hoặc theo yêu cầu của cơ quan tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự (Điều 24 Bộ luật Dân sự 2015).

Do khả năng nhận thức chỉ là bị hạn chế mà không phải mất hẳn nên người bị tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự vẫn được thiết lập các giao dịch nhằm phục vụ mục đích sinh hoạt hàng ngày, còn các giao dịch liên quan đến tài sản thì phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật.

Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự sẽ được Tòa ra quyết định hủy quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự khi:

  • Không còn căn cứ tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
  • Có yêu cầu của chính người đã bị tuyên bố hạn chế năng lực hành vi hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan.

 

2.5. Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Người thành niên nhưng do tình trạng thể chất như bị mù, điếc, liệt,...mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan và có giám định pháp y tâm thần thì Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ (Điều 23 Bộ luật Dân sự 2015). 

Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi sẽ được Tòa án ra quyết định hủy quyết định tuyên bố người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi khi:

  • Không có căn cứ tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
  • Có yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan.

 

3. Ý nghĩa của việc quy định năng lực hành vi dân sự của cá nhân

  • Là cơ sở để giải quyết tranh chấp khi vụ việc dân sự liên quan đến năng lực hành vi dân sự xảy ra.
  • Bảo đảm tính tự nguyện của thể nhân (cá nhân) khi tham gia vào giao dịch dân sự.
  • Góp phần nâng cao trách nhiệm của các bên khi xác lập giao dịch dân sự, ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật.

>> Xem thêm Mã số doanh nghiệp là gì? Cách tra cứu mã số doanh nghiệp chuẩn nhất năm 2022

Trên đây là bài viết về Thể nhân là gì? Năng lực hành vi dân sự của thể nhân theo quy định pháp luật của Luật Minh Khuê gửi đến bạn đọc mang tính chất tham khảo. Trong trường hợp có bất kỳ thắc mắc nào liên quan đến pháp luật, bạn đọc vui lòng liên hệ trực tiếp đến Tổng đài tư vấn miễn phí trực tuyến theo số hotline 1900.6162 để được đội ngũ Luật sư tư vấn pháp luật hỗ trợ giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách. Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!.