Đầu năm 2008, em gái út của tôi kiện tôi ra toàn với nội dung đòi chia lại thừa kế. 2 ngày sau khi tòa tuyên bản án sơ thẩm. tôi có làm đơn phúc thẩm gửi lên tòa án thành phố Hà Nội với nội dung kháng cáo lại bản án của tòa án sơ thẩm. Tòa phúc thẩm đã ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và yêu cầu các thành viên thực hiện theo bản di chúc. Từ năm 2008 đến nay, do nể tình anh em, tôi vẫn cho cô út sử dụng khoảng đất mà tòa quyết định mà theo em gái tôi là vẫn đang tranh chấp. Tôi đã nhận lại toàn bộ số tiền thi hành án, em gái tôi không nhận số tiền đó nên đã bị sung công quỹ, nhưng đến nay tôi chưa nhận được quyết định thi hành án của đội thi hành án địa phương. Nay tôi có nhu cầu muốn lấy lại phần đất đó để xây dựng, UBND phường đã cấp quyết định cấp phép xây dựng cho tôi trên khoảng đất nói trên. Tôi có nhiều lần yêu cầu em gái trả lại toàn bộ diện tích khoảng đất đó lại để tôi xây dựng nhưng cô không thực hiện. Nay tôi muốn thi hành án bản án phúc thẩm có được không? Xin chân thành cảm ơn luật sư.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật dân sự công ty Luật MInh Khuê.

Vi phạm hợp đồng cho vay nặng lãi ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

 

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Luật thi hành án dân sự năm 2008 

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014 

>> Xem thêm:  Thủ tục nhận thừa kế quyền sử dụng đất như thế nào ? Thời hiệu khởi kiện thừa kế là bao lâu ?

2. Nội dung tư vấn:

Căn cứ Điều 30 Luật Thi hành án dân sự như sau:

Điều 30. Thời hiệu yêu cầu thi hành án

1. Trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án.

Trường hợp thời hạn thực hiện nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết định thì thời hạn 05 năm được tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

Đối với bản án, quyết định thi hành theo định kỳ thì thời hạn 05 năm được áp dụng cho từng định kỳ, kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

2. Đối với các trường hợp hoãn, tạm đình chỉ thi hành án theo quy định của Luật này thì thời gian hoãn, tạm đình chỉ không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp người được thi hành án đồng ý cho người phải thi hành án hoãn thi hành án.

3. Trường hợp người yêu cầu thi hành án chứng minh được do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn thì thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án.

Như vậy, thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự là 5 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật; hoặc kể từ ngày đến hạn thực hiện nghĩa vụ đã được ấn định trong bản án, quyết định; hoặc tính theo từng kỳ kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn. Trong trường hợp của bạn, bản án phúc thẩm đã có hiệu lực từ năm 2008. Căn cứ vào quy định tại Điều 30 đã trích ở trên thì đến nay đã hết thời hiệu yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án, vậy nên bạn có thể giải quyết bằng cách thỏa thuận thi hành án, căn cứ vào Điều 6 Luật Thi hành án dân sự như sau:

Điều 6. Thỏa thuận thi hành án

>> Xem thêm:  Di chúc do người nước ngoài lập tại Việt Nam có cần phải xin xác nhận của Đại Sứ Quán không ?

1. Đương sự có quyền thỏa thuận về việc thi hành án, nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Kết quả thi hành án theo thỏa thuận được công nhận.

Theo yêu cầu của đương sự, Chấp hành viên có trách nhiệm chứng kiến việc thỏa thuận về thi hành án.

2. Trường hợp đương sự không thực hiện đúng thỏa thuận thì có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành phần nghĩa vụ chưa được thi hành theo nội dung bản án, quyết định.

Trường hợp không thỏa thuận được, bạn có thể nhờ chính quyền địa phương can thiệp. 

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về, luật thuế và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật dân sự.

 

>> Xem thêm:  Phần di sản không đề cập trong di chúc chia như thế nào ? Ai được hưởng di sản thừa kế ?