Luật sư tư vấn:

Đây là trường hợp gây thiệt hại mà không phải chịu trách nhiệm hình sự do thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên.

Về nguyên tắc, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đã thực hiện dù việc thực hiện đó là do mệnh lệnh của cấp trên. Nguyên tắc này xuất phát từ chỗ cho rằng con người là chủ thể hoạt động có tính chủ động và tính độc lập tương đối mà không phải là “công cụ” thụ động của cấp ttên. Tuy nhiên, trong lĩnh vực hoạt động vũ trang phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, việc phục tùng tuyệt đối mệnh lệnh là nguyên tắc hoạt động thì vấn đề có thể khác đi. Do vậy, BLHS năm 2015 được bổ sung căn cứ hợp pháp “thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên”. Điều 26 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:

“Người thực hiện hành vi gây thiệt hại trong khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân để thực hiện nhiệm vụ quổc phòng, an ninh, nếu đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó thì không phải chịu trách nhiệm hình sự...

Theo nội dung của điều luật, người gây thiệt hại trong khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp ttên không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi gây thiệt hại của mình khi thoả mãn các điều kiện sau:

- Thi hành mệnh lệnh mà trong đó hành vi gây thiệt hại xảy ra phải là thi hành mệnh lệnh ưong lực lượng vũ trang nhân dân, bao gồm lực lượng quân đội nhân dân và công an nhân dân;

- Nhiệm vụ được thực hiện theo mệnh lệnh phải là các nhiệm vụ về quốc phòng hoặc an ninh. Điều này được đặt ra vì lực lượng vũ trang nhân dân có những nhiệm vụ khác không phải về quốc phòng, an ninh;

- Người ra mệnh lệnh phải là người chỉ huy hoặc cấp trên của người thi hành mệnh lệnh và

- Người thi hành mệnh lệnh đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người này vẫn yêu cầu họ phải thực hiện mệnh lệnh.

Khi các điều kiện trên đây thoả mãn, người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm hình sự trừ trường hợp hành vi gây thiệt hại thoả mãn các dấu hiệu của một trong các tội phạm được quy định tại các điều 421, 422 và 423 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Đó là tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược; tội chống loài người và tội phạm chiến tranh. Các ngoại lệ này được xác định rõ tại đoạn 2 của Điều 26 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực hình sự về trách nhiệm hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

>> Xem thêm:  Trách nhiệm hình sự là gì ? Phân tích đặc điểm của trách nhiệm hình sự ?

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn xử lý việc vô tình gây tai nạn giao thông chết người?