1. Thoả ước lao động tập thể hết hạn được hiểu thế nào?

Thoả ước tập thể đã trở nên phổ biến, mặc dù đã được đề cập nhiều trong các bài viết, khái niệm này vẫn được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau.

Tuy nhiên, trong góc nhìn pháp lý, khái niệm này được định nghĩa cụ thể trong Bộ luật lao động 2019, theo đó: Thoả ước lao động tập thể là sự thỏa thuận được đạt được thông qua việc thương lượng của tập thể và được ghi lại bằng văn bản. (Khoản 1, Điều 75).

Trước khi trình bày khái niệm "thoả ước lao động tập thể hết hạn", chúng tôi sẽ đi vào phân tích một số vấn đề liên quan đến thời hạn của thoả ước lao động tập thể như sau:

- Thời hạn của thoả ước lao động tập thể là một khoảng thời gian được quy định bởi pháp luật, được tính từ thời điểm thoả ước lao động tập thể có hiệu lực (ngày mà thoả ước được các bên thỏa thuận và được ghi lại trong văn bản thoả ước). Trong trường hợp các bên không thống nhất về ngày có hiệu lực, thoả ước lao động tập thể sẽ có hiệu lực từ ngày ký kết. Khoảng thời gian này kéo dài từ 01 đến 03 năm.

- Thỏa ước lao động tập thể có thời hạn từ 01 năm đến 03 năm. Thời hạn cụ thể này được quyết định bởi các bên thỏa thuận và ghi rõ trong văn bản thoả ước lao động tập thể. (Xem Khoản 3, Điều 78 Bộ luật lao động 2019).

Trước đây, quy định về thời hạn của thoả ước lao động tập thể được áp dụng riêng biệt đối với thoả ước lao động tập thể cấp doanh nghiệp và thoả ước lao động tập thể cấp ngành. Tuy nhiên, hiện nay, quy định về thời hạn đã được thống nhất cho tất cả các thoả ước lao động tập thể, mặc dù một số quan điểm cho rằng thời hạn này chỉ phù hợp với thoả ước lao động tập thể cấp doanh nghiệp và không thực sự phù hợp với thoả ước lao động tập thể cấp ngành, vì loại thoả ước này thường mang tính định khung bền vững và quá trình ký kết cũng khó khăn, phức tạp. Do đó, một số người cho rằng nên có quy định riêng về thời hạn của thoả ước lao động tập thể cấp ngành, với thời gian kéo dài hơn.

Ở các quốc gia khác nhau trên thế giới, thời gian tồn tại của một thoả ước lao động tập thể được xác định có sự khác biệt. Thông thường, thoả ước lao động tập thể có thể kéo dài từ 01 đến 03 năm như ở Mỹ, Singapore, Thái Lan,... Đôi khi, thời hạn cũng có thể ngắn hơn hoặc dài hơn so với khoảng thời gian nêu trên.

Ở Malaysia, thoả ước lao động tập thể có hiệu lực không dưới 03 năm kể từ ngày bắt đầu thực hiện. Sau khi ký kết, thoả ước lao động tập thể sẽ được ủy thác cho Luật sư của Tòa án trong vòng 01 tháng kể từ ngày thoả ước có hiệu lực, và Luật sư của Tòa án sẽ gửi thoả ước lên Tòa án để công nhận thoả ước lao động tập thể có hiệu lực từ khi được Tòa án công nhận.

Thoả ước lao động tập thể có thời hạn 04 năm có thể thấy ở Ý, Đan Mạch,...; thoả ước lao động tập thể 05 năm có thể thấy ở Pháp, Thụy Sĩ,...

Từ việc phân tích về thời hạn của thoả ước lao động tập thể, có thể hiểu rằng thoả ước lao động tập thể hết hạn là khi thoả ước kết thúc sau khoảng thời gian 01 đến 03 năm tùy thuộc vào thoả thuận của các bên, tức là vượt quá ngày cuối cùng của thời hạn. Nguyên tắc là khi thoả ước lao động tập thể hết hạn, các điều khoản và nội dung được thoả thuận và ghi nhận trong đó không còn giá trị áp dụng đối với người lao động và người sử dụng lao động, trừ khi có thoả thuận khác. Khi đó, các bên phải đưa ra các phương án giải quyết và xử lý, các nội dung này sẽ được nêu rõ ở mục 2 dưới đây.

 

2. Thỏa ước lao động tập thể hết hạn thì phải xử lý như thế nào?

Quy định về cách xử lý khi thoả ước lao động tập thể hết thời hạn đã được rõ ràng đề cập trong Điều 83 của Bộ luật lao động 2019: Trước khi thoả ước lao động tập thể hết thời hạn 90 ngày, các bên có thể thương lượng để gia hạn hoặc ký kết thoả ước lao động tập thể mới.... Đặc biệt, để bảo đảm quyền lợi của các bên, pháp luật quy định rằng thoả ước lao động tập thể có thể được gia hạn (nhưng không quá 90 ngày kể từ ngày thoả ước lao động tập thể hết hạn) trong khi các bên đang tiếp tục thương lượng, trong một trong hai trường hợp nêu trên.

Xuất phát từ bản chất của quá trình thương lượng tập thể thường kéo dài và tốn kém, quy định này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc duy trì thoả ước lao động tập thể của đơn vị. Đồng thời, pháp luật cũng đặt ra một khung thời gian thương lượng cố định mà không cho phép gia hạn, bởi vì các bên đã có thoả ước hiện hành để tiếp tục thương lượng, đồng thời tránh việc trì hoãn có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên.

Quy định tại Điều 83 của Bộ luật lao động năm 2019 đã được điều chỉnh so với Bộ luật lao động năm 2012. Theo Bộ luật lao động năm 2012, tại Điều 81, quy định như sau:

Trong thời hạn 03 tháng trước ngày thoả ước lao động tập thể hết hạn, hai bên có thể thương lượng để gia hạn hoặc ký kết thoả ước lao động tập thể mới. Khi thoả ước lao động tập thể hết hạn mà hai bên vẫn tiếp tục thương lượng, thoả ước lao động tập thể cũ vẫn được tiếp tục thực hiện trong thời gian không quá 60 ngày.

Vậy, Bộ luật lao động năm 2019 đã rút ngắn thời gian trước khi thoả ước lao động tập thể hết hạn để các bên có thể thương lượng gia hạn hoặc ký kết thoả ước mới. Tuy nhiên, thời gian cho phép gia hạn thoả ước lao động tập thể trong khi các bên tiếp tục thương lượng đã được kéo dài. Điều này phản ánh sự điều chỉnh có ý nghĩa, phản ánh quan điểm của nhà lập pháp trong việc tìm kiếm các giải pháp hiệu quả nhất khi thoả ước lao động tập thể hết hạn.

 

3. Quy định về lấy ý kiến về việc kéo dài thời hạn của Thỏa ước lao động tập thể

Trong quy định tại Điều 83 của Bộ luật lao động năm 2019, có sự bổ sung về việc lấy ý kiến theo quy định tại Điều 76 của Bộ luật này khi các bên thỏa thuận gia hạn thời hạn của thoả ước lao động tập thể. Điều này đi kèm với những điều chỉnh cụ thể như sau:

- Với thoả ước lao động tập thể doanh nghiệp, phải lấy ý kiến của toàn bộ nhân viên trong doanh nghiệp và chỉ được ký kết khi có hơn 50% số người lao động biểu quyết tán thành (Xem Khoản 1, Điều 76).

- Đối với thoả ước lao động tập thể ngành, cần lấy ý kiến của toàn bộ thành viên ban lãnh đạo của các tổ chức đại diện người lao động và chỉ được ký kết khi có hơn 50% tổng số người được lấy ý kiến biểu quyết tán thành (Xem Khoản 2, Điều 76).

- Đối với thoả ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp, cần lấy ý kiến của toàn bộ nhân viên trong các doanh nghiệp tham gia thương lượng hoặc toàn bộ thành viên ban lãnh đạo của các tổ chức đại diện người lao động và chỉ những doanh nghiệp có hơn 50% số người được lấy ý kiến biểu quyết tán thành mới tham gia ký kết thoả ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp (Xem Khoản 2, Điều 76).

Trong trường hợp các bên thoả thuận về việc ký kết thoả ước lao động tập thể mới, nguyên tắc, điều kiện, trình tự, và thủ tục phải tuân thủ theo quy định của pháp luật về việc ký kết thoả ước lao động tập thể.

Tóm lại, quy định về việc xử lý khi thoả ước lao động tập thể hết hạn đã được quy định cụ thể. Mặc dù không quá phức tạp, nhưng đây là một bước đi có ý nghĩa và phản ánh sự tiến bộ trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động và tạo ra một môi trường lao động công bằng, hòa bình và ổn định.

Bài viết liên quan: Quy định mới về thỏa ước lao động tập thể theo luật lao động năm 2019

Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê về vấn đề: Thỏa ước lao động tập thể hết hạn thì xử lý như thế nào? Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn về pháp luật qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin cảm ơn quý bạn đọc đã quan tâm theo dõi!