1. Thoả ước lao động tập thể vô hiệu
Để phát sinh hiệu lực, thoả ước lao động tập thể phải được thương lượng và kí kết trên cơ sở tuân theo đày đủ các quy định của pháp luật. Song trên thực tế, do nhiều nguyên nhân từ các bên dẫn đến thoả ước lao động tập thể được kí kết không đúng pháp luật về chủ thể, nội dung cũng như trình tự, thủ tục thương lượng, kí kết. Đối với những thoả ước lao động tập thể đó thì tùy từng trường hợp sẽ bị vô hiệu từng phần hoặc vô hiệu toàn bộ.
- Thoả ước lao động tập thể vô hiệu từng phần
Thoả ước lao động tập thể vô hiệu từng phần là thoả ước lao động tập thể có một hoặc một số nội dung trong thoả ước vi phạm pháp luật nhưng không làm ảnh hưởng đến các nội dung còn lại. Ví dụ, nội dung mức lương tối thiểu trong thoả ước lao động tập thể thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định tại thời điểm thoả ước lao động tập thể có hiệu lực thì nội dung mức lương tối thiểu này bị vô hiệu.
- Thoả ước lao động tập thể vô hiệu toàn bộ
Thoả ước lao động tập thể vô hiệu toàn bộ là thoả ước lao động tập thể vi phạm nghiêm trọng về nội dung hoặc quy trình thương lượng tập thể, kí kết thoả ước lao động tập thể. Pháp luật các quốc gia quy định những căn cứ khác nhau để xác định thoả ước vô hiệu toàn bộ. Chẳng hạn, ở Thuỵ Điển, thoả ước lao động tập thể vô hiệu toàn bộ khi toàn bộ nội dung của thoả ước lao động tập thể trái với quy định của pháp luật hoặc cổ thể một nội dung trọng tâm trái pháp luật, ví dụ nội dung về việc làm. Ở Việt Nam, thoả ước lao động tập thể vô hiệu toàn bộ thuộc một trong ba trường hợp quy định tại Điều 86 Bộ luật lao động năm 2019, đó là:
1) Toàn bộ nội dung thoả ước lao động tập thể vi phạm pháp luật;
2) Người kí kết không đúng thẩm quyền;
3) Không tuân thủ đúng quy trình thương lượng, kí kết thoả ước lao động tập thể.
2. Thẩm quyền tuyên bố thoả ước lao động tập thể vô hiệu
Thẩm quyền tuyên bố thoả ước lao động tập thể vô hiệu là quyền của cơ quan nhà nước được xem xét yêu cầu của người lao động, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện người lao động, cơ quan nhà nước có thẩm quyền và quyết định tuyên bố thoả ước lao động tập thể vô hiệu khi có căn cứ theo quy định.
Cũng như pháp luật của nhiều quốc gia như Thuỵ Điển, Pháp, Bỉ,... pháp luật Việt Nam quy định toà án nhân dân có thẩm quyền tuyên bố thoả ước lao động tập thể vô hiệu (Điều 87 Bộ luật lao động năm 2019 và khoản 1 Điều 33, khoản 2 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Theo đó, người lao động, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện người lao động, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền yêu cầu toà án có thẩm quyền tuyên bố thoả ước lao động tập thể vô hiệu khi có căn cứ theo quy định của Bộ luật lao động. Thủ tục xem xét yêu cầu tuyên bố thoả ước lao động tập thể vô hiệu được quy định tại Điều 402 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
3. Xử lí thoả ước lao động tập thể vô hiệu
Xử lí thoả ước lao động tập thể vô hiệu là việc cơ quan có thẩm quyền xem xét và giải quyết hậu quả pháp lí của việc tuyên bố thoả ước lao động tập thể vô hiệu.
về nguyên tắc, điều khoản nào của thoả ước lao động tập thể bị tuyên bố vô hiệu thì điều khoản đó bị huỷ bỏ, theo đó quyền, nghĩa vụ và lợi ích các bên được giải quyết theo các nội dung tương ứng quy định trong pháp luật. Trường hợp thoả ước lao động tập thể vô hiệu toàn bộ, thì quyền, nghĩa vụ và lợi ích các bên hoàn toàn được giải quyết theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, để bảo đảm quyền lợi cho người lao động trên cơ sở nguyên tắc công bằng, có lợi hơn mà người lao động đã thoả thuận hợp pháp với người sử dụng lao động thì cách giải quyết quyền, nghĩa vụ, lợi ích của các bên còn dựa trên cơ sở hợp đồng lao động (Điều 80 Bộ luật lao động năm 2019).
Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)