1. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự với tội cố ý gây thương tích

Xin chào Luật sư, Luật sư cho tôi hỏi một vấn đề như sau: 6 năm trước tôi và hàng xóm có xảy ra tranh chấp, khi đó tôi nóng quá đã dùng dao chém vào tay của người hàng xóm khiến họ phải vào bệnh viện điều trị một thời gian dài, thương tật khi đó tôi nghe nói là 9%. Sự việc cứ thế trôi đi, nhà hàng xóm cũng không đi trình báo với ai. Nay chúng tôi lại có tranh chấp, nhà hàng xóm dọa sẽ đi trình báo về chuyện ngày xưa để tôi phải đi tù, tôi rất hoang mang, lo lắng về việc này. Tôi xin hỏi là sự việc xảy ra 6 năm rồi tôi có bị đi tù nữa không? Xin cảm ơn.

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến Bộ phân tư vấn của Công ty chúng tôi. Vấn đề của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

1.1. Về tội cố ý gây thương tích

Trước hết cần phải xác định hành vi của bạn là hành vi cố ý gây thương tích được quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự. Tùy vào mức độ nghiêm trọng của hành vi và bạn có thể phải đối mặt với các khung hình phạt như sau:

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61 % trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Làm chết 02 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

6. Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Theo như bạn mô tả, bạn dùng dao (tức là có dùng hung khí nguy hiểm) gây thương tích 9% cho người hàng xóm, do đó, hành vi này cấu thành tội cố ý gây thương tích theo khoản 1 của Điều 134, bạn có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

1.2. Về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Theo như thông tin bạn cung cấp và những gì chúng tôi đã phân tích ở trên, với khung hình phạt phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm thì được xác định đây là tội phạm ít nghiêm trọng.

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 27 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 như sau:

Điều 27. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

1. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

2. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

a) 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng;

b) 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng;

c) 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng;

d) 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

3. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà Bộ luật này quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 01 năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.

Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ.

Như vậy, theo như thông tin bạn cung cấp, sự việc này đã xảy ra 6 năm. Đối chiếu với điều luật trên, trường hợp của bạn đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó, bạn không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi cố ý gây thương tích đó nữa.

2. Giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

>> Xem thêm:  Mẫu đơn xin giảm nhẹ hình phạt, đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Chào luật sự, tôi có một vấn đề cần được hỗ trợ giải đáp như sau: Em tôi bị kết án vì hành vi trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173, mức phạt tù là 2 năm. Sau đó gia đình chúng tôi có làm đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt vì có tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, ngoài ra ông tôi là liệt sĩ. Tuy nhiên, Tòa phúc thẩm không đồng ý, vẫn tuyên y án sơ thẩm, vì lý do ông tôi là liệt sĩ không phải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Vậy những trường hợp nào mới được coi là giảm nhẹ trách nhiệm hình sự? rất mong nhận được phản hồi từ phía luật sư. Xin cảm ơn.

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến Bộ phận tư vấn của Công ty chúng tôi. Vấn đề của bạn chúng tôi xin được giải đáp như sau:

2.1. Về hành vi trộm cắp tài sản:

Hành vi trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 173 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 như sau:

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

đ) Tài sản là di vật, cổ vật.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu thoát;

e) Tài sản là bảo vật quốc gia;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Theo như bạn trình bày, em bạn bị kết án theo khoản 1 Điều luật này, nên em bạn thuộc trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng.

2.2. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự như sau:

Điều 51. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

a) Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;

c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

đ) Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;

e) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;

g) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

h) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

i) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

k) Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;

l) Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;

m) Phạm tội do lạc hậu;

n) Người phạm tội là phụ nữ có thai;

o) Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;

p) Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;

q) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

r) Người phạm tội tự thú;

s) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

t) Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án;

u) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

v) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;

x) Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ.

Như vậy, nếu em bạn phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bạn có thể sử dụng tính tiết giảm nhẹ theo điểm i khoản 1 Điều 51. Đối với tình tiết ông bạn là liên sĩ, đây không phải là một tình tiết giảm nhẹ được quy định trong luật hình sự. Tuy nhiên, tại khoản 2 của Điều luật cho phép Tòa án có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ. Nếu trong trường hợp Tòa án không công nhận đây là tình tiết giảm nhẹ cũng khó có thể kết luận Tòa án làm đúng hay sai, chỉ có thể nói quyết định này không trái luật.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi. Nếu có bất cứ vấn đề gì gây nhầm lẫn hoặc chưa rõ ràng trong nội dung bài viết, rất mong nhận được phản hồi từ Quý khách hàng tới Tổng đài 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng.

>> Xem thêm:  Bị công an giữ bằng lái xe sau 1 năm có lấy lại được không ?

3. Những tình tiết nào được coi là tình tiết tăng nặng khung hình phạt?

Những tình tiết tăng nặng khung hình phạt hay còn được gọi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 như sau:

Điều 52. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

1. Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

a) Phạm tội có tổ chức;

b) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;

d) Phạm tội có tính chất côn đồ;

đ) Phạm tội vì động cơ đê hèn;

e) Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;

g) Phạm tội 02 lần trở lên;

h) Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm;

i) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai hoặc người đủ 70 tuổi trở lên;

k) Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác;

l) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;

m) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hoặc tàn ác để phạm tội;

n) Dùng thủ đoạn hoặc phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội;

o) Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội;

p) Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi. Nếu có bất cứ vấn đề gì gây nhầm lẫn hoặc chưa rõ ràng trong nội dung bài viết, rất mong nhận được phản hồi từ Quý khách hàng tới Tổng đài 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng.

>> Xem thêm:  Trách nhiệm hình sự là gì ? Phân tích đặc điểm của trách nhiệm hình sự ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Tòa án có thể tự quy định các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được không?

Trả lời:

Theo quy định của pháp luật hình sự hiện hành, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là những tình tiết được ấn định cụ thể trong khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Không ai có thể tự định thêm các tình tiết khác thành các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Câu hỏi: Tòa án có thể tự công nhận các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được không?

Trả lời:

Hiện nay, hầu hết các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đều được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, pháp luật cho phép Tòa án công nhận thêm các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án.

Câu hỏi: Phụ nữ có thai phạm tội có được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự không?

Trả lời:

Người phạm tội là phụ nữ có thai là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự hiện hành.