- 1. Thông tin hàng hóa là gì?
- 2. Cung cấp thông tin về hàng hoá, dịch vụ cho Người tiêu dùng là gì?
- 3. Trách nhiệm cung cấp thông tin trong pháp luật dân sự
- 4. Trách nhiệm cung cấp thông tin của thương nhân trong pháp luật thương mại
- 5. Trách nhiệm cung cấp thông tin trong pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng
- 5.1. Ghi nhãn hàng hóa theo quy định của pháp luật
- 5.2. Niêm yết giá
- 5.3. Trách nhiệm của bên thứ ba
1. Thông tin hàng hóa là gì?
Thông tin hàng hóa (TTHH) được hiểu là tập hợp các thuộc tính về hàng hóa đó, được thể hiện dưới dạng chữ cái, từ ngữ, màu sắc, kí hiệu, hình ảnh,… dùng để xác định hàng hóa đó và giúp khách hàng phân biệt giữa hàng hóa của các tổ chức, cá nhân khác nhau”.
Thông tin chất lượng hàng hóa có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, TTHH là những thông tin liên quan đến những tin tức cụ thể về hàng hóa như: nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa; chất lượng, giá cả, thành phần, công dụng, hạn sử dung, thông tin về cảnh báo, phòng ngừa rủi ro cho người tiêu dùng (NTD)… Đó là những thông tin cần thiết mà NTD cần tiếp cận khi tham gia quan hệ tiêu dùng và sử dụng hàng hóa.
Thứ hai, TTHH là những thông tin chỉ được thực hiện bởi các tổ chức (TC), cá nhân kinh doanh (CNKD) hàng hóa. Bởi lẽ, chỉ có họ mới là người hiểu rõ các đặc tính, tính năng đối với hàng hóa của mình để từ đó đưa ra các thông tin, khuyến nghị cho NTD một cách trung thực, chuẩn xác và đầy đủ nhất.
Thứ ba, TTHH là những thông tin thể hiện dưới nhiều hình thức và cách thức khác nhau. Về hình thức thể hiện rất đa dạng, phong phú, như chữ cái, từ ngữ, màu sắc, kí hiệu, hình ảnh. Về cách thức tiếp cận như qua việc công bố chất lượng của TC, CNKD; qua việc ghi nhãn hàng hóa; qua hoạt động quảng cáo thương mại.
Thứ tư, mục đích của TTHH là nhằm đáp ứng nhu cầu của NTD, giúp NTD có sự lựa chọn, sử dụng phù hợp với nhu cầu và điều kiện của mình.
2. Cung cấp thông tin về hàng hoá, dịch vụ cho Người tiêu dùng là gì?
Cung cấp thông tin về hàng hoá, dịch vụ cho Người tiêu dùng là hành vi của các thương nhân nhằm cung cấp đúng, đầy đủ và kịp thời các thông tin cần thiết liên quan đến hàng hóa/dịch vụ cung cấp cho Người tiêu dùng và những thông tin liên quan đến việc giao kết cũng như thực hiện hợp đồng.
Việc này nhằm khắc phục vị trí yếu thế của người tiêu dùng và tình trạng bất cân xứng về thông tin giữa Người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh.
Trong quan hệ tiêu dùng, cung cấp thông tin là một khái niệm kết hợp giữa tính pháp lý và tính kỹ thuật. Khái niệm này được hiểu là hành vi của các thương nhân nhằm cung cấp đúng, đầy đủ và kịp thời các thông tin cần thiết liên quan đến hàng hóa/dịch vụ cung cấp cho NTD và những thông tin liên quan đến việc giao kết cũng như thực hiện hợp đồng. Các thông tin này bao gồm nguồn gốc, xuất xứ sản phẩm, các thông số kỹ thuật để hướng dẫn vận hành và sử dụng sản phẩm, về các rủi ro có thể xảy ra trong quá trình sử dụng, giá cả sản phẩm/dịch vụ, các điều kiện bảo hành, bảo trì,... và các thông tin có liên quan khác. Dựa trên các thông tin này, NTD sẽ đưa ra quyết định về việc giao kết và thực hiện hợp đồng, cũng như xác định trách nhiệm đối với hàng hóa khuyết tật, dịch vụ kém chất lượng trong quá trình thực hiện, trách nhiệm bảo hành trong giai đoạn hậu mãi.
Trách nhiệm cung cấp thông tin của thương nhân dựa trên các căn cứ pháp lý sau đây:
3. Trách nhiệm cung cấp thông tin trong pháp luật dân sự
Thứ nhất, theo quy định của pháp luật dân sự, nghĩa vụ cung cấp thông tin là nghĩa vụ chủ yếu của bên bán. Cụ thể, Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 khi quy định về Nghĩa vụ cung cấp thông tin và hướng dẫn cách sử dụng có yêu cầu bên bán “cung cấp cho bên mua thông tin cần thiết về tài sản mua bán và hướng dẫn cách sử dụng tài sản”. Điều này có ý nghĩa bảo đảm các quyền tài sản cho bên mua, đặc biệt là quyền sử dụng.
Thứ hai, ngoài bên bán, pháp luật dân sự còn đặt ra nghĩa vụ cung cấp thông tin đối với các thương nhân ở nhiều khâu trong chuỗi sản xuất, cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho NTD. Cụ thể như: Bên thế chấp, người chuyển giao quyền, bên cho thuê, bên cho mượn tài sản, bên sử dụng dịch vụ, bên vận chuyển, bên ủy quyền…
Tuy nhiên, do BLDS là một bộ luật quy định cho các đối tượng chủ thể đa dạng, bình đẳng nói chung nên vị trí bất lợi và yếu thế của NTD trong mối quan hệ với tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không được thể hiện rõ nét, dẫn đến các quy định trong BLDS về trách nhiệm cung cấp thông tin không bảo vệ được triệt để quyền lợi NTD.
4. Trách nhiệm cung cấp thông tin của thương nhân trong pháp luật thương mại
Đầu tiên, nghĩa vụ của thương nhân trong việc cung cấp đầy đủ thông tin cho NTD về hàng hóa, dịch vụ là một trong những nguyên tắc quan trong nhất trong Luật Thương mại 2005, theo đó “Thương nhân thực hiện hoạt động thương mại có nghĩa vụ thông tin đầy đủ, trung thực cho NTD về hàng hoá và dịch vụ mà mình kinh doanh và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin đó.”
Thứ hai, để cụ thể hóa nguyên tắc cung cấp thông tin của thương nhân, pháp luật thương mại cũng quy định về trách nhiệm cung cấp thông tin của thương nhân khi thực hiện một số loại hình giao dịch, cụ thể như: Bên bán, bên cung ứng dịch vụ, thương nhân thực hiện khuyến mại, bên thuê quảng cáo thương mại, bên thuê dịch vụ trưng bày, giới thiệu hàng hoá/ dịch vụ, bên giao đại diện, bên được môi giới, bên ủy thác, bên giao đại lý, người tổ chức đấu giá, bên thuê dịch vụ quá cảnh,…
Có thể thấy, về bản chất, pháp luật thương mại xây dựng chủ yếu nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa thương nhân và thương nhân. Vấn đề trách nhiệm của thương nhân trong việc cung cấp thông tin cho NTD về cơ bản được điều chỉnh trên nền tảng các nghĩa vụ cung cấp thông tin nói chung của thương nhân trong hoạt động thương mại.
5. Trách nhiệm cung cấp thông tin trong pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng
Đầu tiên, ở góc độ NTD, Luật Bảo vệ quyền lợi (BVQLNTD) 2010 quy định NTD có quyền “được cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác” và các thông tin được quyền nhận được, bao gồm: “... thông tin về tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; nội dung giao dịch hàng hóa, dịch vụ; nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa.”
Thứ hai, ở chiều ngược lại, Luật đặt ra nghĩa vụ và trách nhiệm của thương nhân trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho NTD.
Thứ ba, Luật cũng cấm thương nhân che giấu, cung cấp thông tin không đầy đủ, sai lệch, không chính xác về hàng hóa/ dịch vụ, về thương nhân và về giao dịch hoặc che dấu thông tin về an toàn sản phẩm hàng hóa.
Theo quy định tại Điều 12 của Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2010, thương nhân sẽ có trách nhiệm cung cấp cho NTD các thông tin liên quan đến các nội dung:
- Ghi nhãn hàng hóa theo quy định của pháp luật;
- Niêm yết công khai giá hàng hóa, dịch vụ tại địa điểm kinh doanh, văn phòng dịch vụ;
- Cảnh báo khả năng hàng hóa, dịch vụ có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tính mạng, tài sản của NTD và các biện pháp phòng ngừa;
- Cung cấp thông tin về khả năng cung ứng linh kiện, phụ kiện thay thế của hàng hóa;
- Cung cấp hướng dẫn sử dụng; điều kiện, thời hạn, địa điểm, thủ tục bảo hành trong trường hợp hàng hóa, dịch vụ có bảo hành;
- Thông báo chính xác, đầy đủ cho NTD về hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung trước khi giao dịch.
Trong các nội dung này, có hai nội dung điển hình chính là ghi nhãn hàng hóa và niêm yết giá.
5.1. Ghi nhãn hàng hóa theo quy định của pháp luật
Quy định pháp luật liên quan trực tiếp nhất đến vấn đề “ghi nhãn hàng hóa” chính là Nghị định số 43/2017/NĐ-CP ngày 14 tháng 4 năm 2017 về nhãn hàng hóa (Nghị định số 43/2017/NĐ-CP). Đây là Nghị định được ban hành căn cứ quy định của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007, Luật Thương mại 2005 và Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2010.
Thứ nhất, trong Nghị định số 43/2017/NĐ-CP, các khái niệm pháp lý cơ bản liên quan đến ghi nhãn hàng hóa đã được xây dựng như “Nhãn hàng hóa” và “Ghi nhãn hàng hóa”.
Thứ hai, căn cứ quy định của Nghị định này thì các thương nhân có trách nhiệm ghi nhãn đối với mọi loại hàng hóa do mình sản xuất, cung cấp, trừ một số trường hợp đặc biệt.
Thứ ba, thông tin bắt buộc phải thể hiện trên nhãn hàng hóa bao gồm: Tên hàng hóa; Tên và địa chỉ của tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa và xuất xứ hàng hóa. Ngoài ra, trên nhãn còn phải có “Các nội dung khác theo tính chất của mỗi loại hàng hóa”. Các nội dung này được xác định theo Phụ lục I của Nghị định 43/2007/NĐ-CP và văn bản quy phạm pháp luật liên quan.
Nghị định số 43/2017/NĐ-CP đã quy định khá rõ ràng, cụ thể về trách nhiệm ghi nhãn hàng hóa của thương nhân. Ngoài ra, khi cung cấp các hàng hóa, thương nhân cũng cần thực hiện theo các quy định đặc thù trong những văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành, trong đó có bổ sung thêm một số nội dung hướng dẫn cụ thể hơn Nghị định số 43/2017/NĐ-CP, chủ yếu do yêu cầu riêng xuất phát từ đặc điểm của hàng hóa.
Trong pháp luật thương mại cũng có một số nội dung quy định về ghi nhãn hàng hóa, tuy nhiên, các quy định này khá đơn giản.
Thứ nhất, Luật Thương mại 2005 cũng xây dựng khái niệm “nhãn hàng hóa” và đặt ra yêu cầu phải ghi nhãn hàng hóa đối với mọi loại hàng hóa từ lưu thông trên thị trường đến hàng hóa xuất - nhập khẩu.
Thứ hai, để cụ thể hóa, Luật Thương mại 2005 đặt ra yêu cầu ghi nhãn đối với hàng hóa và nghĩa vụ trách nhiệm ghi nhãn hàng hóa của thương nhân trong một số hoạt động thương mại cụ thể như: Trưng bày, giới thiệu hàng hóa. Đồng thời, đặt ra vấn đề xử lý đối với các vi phạm về ghi nhãn hàng hóa.
5.2. Niêm yết giá
Giá hàng hóa, dịch vụ được coi là một yếu tố quan trọng trong giao dịch giữa NTD và tổ chức kinh doanh. Giá hàng hóa phản ánh giá trị mà NTD phải trả để nhận được hàng hóa, dịch vụ. Về nguyên tắc, mọi thương nhân khi cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho NTD đều phải niêm yết giá. Vấn đề niêm yết giá hàng hóa, dịch vụ không được quy định trong BLDS 2015 và Luật Thương mại 2005. Tuy nhiên, hiện tại, có cả hệ thống văn bản điều chỉnh vấn đề giá nói chung và niêm yết giá nói riêng, đó là Luật Giá 2012 và các văn bản hướng dẫn.
Thứ nhất, Luật Giá 2012 đã xây dựng được các khái niệm cơ bản có liên quan, trong đó có khái niệm về “niêm yết giá”.
Thứ hai, Luật Giá 2012 đã coi niêm yết giá là một nghĩa vụ của thương nhân và quy định rõ việc niêm yết giá liên quan đến cả hai nhóm hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá và Nhà nước không định giá.
Thứ ba, Luật Giá 2012 yêu cầu các thương nhân phải công khai thông tin về giá và quy định rõ hình thức không khai chính là niêm yết giá.
5.3. Trách nhiệm của bên thứ ba
Ngoài các thương nhân trực tiếp thực hiện cung cấp thông tin, đối với các thương nhân khác, pháp luật bảo vệ NTD còn đặt ra trách nhiệm đối với bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho NTD.
Thứ nhất, trong BLDS 2015 và Luật Thương mại 2005 không xây dựng khái niệm “bên thứ ba”, tuy nhiên, có đề cập đến “bên thứ ba” khi điều chỉnh một số hoạt động dân sự và thương mại. Hiểu theo nghĩa đơn giản nhất, “bên thứ ba” chính là một bên khác với hai bên tham gia giao dịch (với quan hệ tiêu dùng là giữa NTD và thương nhân).
Thứ hai, trong pháp luật bảo vệ NTD, khái niệm “bên thứ ba” trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho NTD được xây dựng từ Nghị định số 19/2012/NĐ-CP sau đó được tích hợp vào Nghị định số 185/2013/NĐ-CP. Theo đó, “bên thứ ba” trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho NTD được xác định bao gồm các tổ chức cá nhân trực tiếp tham gia vào quá trình xây dựng và truyền tải thông tin về hàng hóa, dịch vụ đến NTD.
Thứ ba, “bên thứ ba” được xác định là một bên phải chịu trách nhiệm (trực tiếp và liên đới) liên quan đến việc cung cấp thông tin cho NTD dù thực tế bên thứ ba thường là bên tham gia theo yêu cầu của thương nhân trực tiếp cung cấp thông tin.
Thứ tư, Luật BVQLNTD 2010 đặt ra trách nhiệm “đặc thù” của bên thứ ba đối với chủ phương tiện truyền thông, nhà cung cấp dịch vụ truyền thông.
Về bản chất, hai chủ thể này cũng là “bên thứ ba”, tuy nhiên, do vai trò “trung gian” quan trọng, nên nhóm chủ thể này được xếp vào nhóm “bên thứ ba đặc thù” khi có bổ sung thêm một số trách nhiệm nhằm tác động, kiểm soát nền tảng thực hiện các hoạt động cung cấp thông tin.