1. Thẩm quyền bổ nhiệm thứ trưởng Bộ Nội vụ

Nhiệm vụ và quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ được xác định theo Điều 98 của Hiến pháp 2013 như sau: Thủ tướng Chính phủ được bầu bởi Quốc hội từ số đại biểu Quốc hội. Thủ tướng Chính phủ có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

- Lãnh đạo hoạt động của Chính phủ; định hình chính sách và tổ chức thực hiện luật pháp. Thủ tướng Chính phủ là người đứng đầu của Chính phủ và có trách nhiệm lãnh đạo toàn bộ hoạt động của Chính phủ, bao gồm quản lý các Bộ và cơ quan ngang bộ. Thủ tướng Chính phủ chịu trách nhiệm trong việc đề xuất và phát triển chính sách quốc gia, cũng như định hình các chương trình và biện pháp cụ thể để thực hiện luật pháp. Ông cũng chịu trách nhiệm trong việc tổ chức thực hiện các chính sách và quyết định của Chính phủ.

- Dẫn dắt và chịu trách nhiệm về hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước từ cấp trung ương đến địa phương, đảm bảo tính thống nhất và liên thông của hệ thống hành chính quốc gia. Điều này bao gồm đảm bảo tính thống nhất, hiệu quả và liên thông của hệ thống hành chính quốc gia, nhằm đảm bảo sự phát triển và thúc đẩy tiến trình cải cách hành chính.

- Đề xuất cho Quốc hội phê chuẩn các đề nghị về bổ nhiệm, miễn nhiệm, và sa thải Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ; bổ nhiệm, miễn nhiệm, và sa thải Thứ trưởng và các vị trí tương đương trong các bộ, cơ quan thuộc bộ; phê chuẩn việc bổ nhiệm, miễn nhiệm và quyết định về điều động, sa thải Chủ tịch và Phó Chủ tịch của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

- Tạm dừng hoặc huỷ bỏ văn bản của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan thuộc bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nếu vi phạm Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp cao hơn; tạm dừng thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nếu vi phạm Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp cao hơn và đề xuất Ủy ban thường vụ của Quốc hội huỷ bỏ;

- Chính phủ Việt Nam quyết định và chỉ đạo việc tham gia vào các cuộc đàm phán về hiệp ước quốc tế. Quyết định này được đưa ra dựa trên các yếu tố như lợi ích quốc gia, chính sách đối ngoại và pháp luật nội địa. Sau khi đạt được thỏa thuận trong quá trình đàm phán, Chính phủ có thẩm quyền ký kết các hiệp ước quốc tế thay mặt cho quốc gia. Sau khi ký kết, các hiệp ước cần được Chính phủ trình Quốc hội phê chuẩn trước khi Việt Nam chính thức gia nhập và trở thành thành viên của các hiệp ước đó. 

- Tuân thủ chế độ báo cáo trước Nhân dân thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng về các vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền giải quyết của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ. Bằng cách thông báo và báo cáo trước Nhân dân, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ không chỉ cung cấp thông tin cho Nhân dân mà còn khuyến khích sự tham gia và phản hồi từ phía cộng đồng, giúp cải thiện quá trình ra quyết định và thúc đẩy sự phát triển cộng đồng.

Theo quy định trên, Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm Thứ trưởng Bộ Nội vụ.

 

2. Thứ trưởng Bộ Nội vụ có nằm trong thành viên của chính phủ không?

Cơ cấu tổ chức và thành viên của Chính phủ được quy định theo Luật Tổ chức Chính phủ 2015 như sau:

- Chính phủ bao gồm Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Số lượng thành viên trong Chính phủ được quyết định bởi Thủ tướng Chính phủ và được trình Quốc hội thông qua. Điều này có nghĩa là Thủ tướng Chính phủ đề xuất một danh sách các thành viên của Chính phủ và số lượng các vị trí trong Chính phủ, và sau đó Quốc hội sẽ bỏ phiếu thông qua danh sách này.

- Cơ cấu tổ chức của Chính phủ bao gồm các bộ và các cơ quan ngang bộ. Các bộ là các đơn vị chức năng của Chính phủ, chịu trách nhiệm về việc quản lý và thực hiện các lĩnh vực cụ thể của quốc gia. Mỗi Bộ có một Bộ trưởng đứng đầu, người được bổ nhiệm hoặc được chỉ định bởi Thủ tướng Chính phủ. Ví dụ về các Bộ bao gồm Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao, v.v. Các cơ quan ngang bộ là các tổ chức không thuộc dạng Bộ nhưng có chức năng quản lý, điều hành những lĩnh vực cụ thể hoặc cung cấp dịch vụ quốc gia. Các cơ quan này không thuộc trực tiếp quản lý của bất kỳ Bộ nào mà thường trực thuộc trực tiếp Thủ tướng Chính phủ hoặc Chính phủ. Ví dụ về các cơ quan ngang bộ bao gồm Văn phòng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, Ủy ban Quản lý vốn nhà nước. Cả hai loại đơn vị này đều có vai trò quan trọng trong việc thực thi chính sách và quản lý các lĩnh vực khác nhau của quốc gia trong hệ thống hành chính của Chính phủ.

- Quyết định về việc thành lập hoặc bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ được Chính phủ trình Quốc hội quyết định. Điều này có nghĩa là Chính phủ sẽ đề xuất các quyết định liên quan đến việc tạo ra hoặc hủy bỏ các Bộ và cơ quan ngang bộ, và sau đó đưa ra Quốc hội để Quốc hội xem xét, thảo luận và quyết định thông qua. Điều này nhấn mạnh sự quan trọng của sự tham gia của Quốc hội trong việc xây dựng và điều chỉnh cơ cấu tổ chức của Chính phủ, đảm bảo tính dân chủ và sự minh bạch trong quá trình này.

Dựa trên quy định trên, chỉ có Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ mới được coi là thành viên của Chính phủ. Do đó, Thứ trưởng Bộ Nội vụ không được xem là một thành viên của Chính phủ.

 

3. Thứ trưởng Bộ Nội vụ phải báo cáo Bộ trưởng khi đi công tác bao nhiêu ngày?

Theo quy định tại điểm a, khoản 1 của Điều 29 trong Quy chế làm việc của Bộ Nội vụ, ban hành kèm Quyết định số 609/QĐ-BNV năm 2022, có các quy định sau:

- Đối với công tác trong nước:

+ Việc lập đoàn và đi công tác trong nước phải tuân thủ yêu cầu nhiệm vụ, nội dung và mục đích của chuyến công tác.

+ Thứ trưởng Bộ Nội vụ đi công tác vắng mặt từ 02 ngày làm việc trở lên phải báo cáo cho Bộ trưởng, trừ khi được Bộ trưởng trực tiếp phân công. 

+ Người đứng đầu đơn vị thuộc hoặc trực thuộc Bộ đi công tác từ 01 ngày làm việc trở lên cũng phải báo cáo cho Bộ trưởng và Lãnh đạo Bộ phụ trách trước thời gian đi ít nhất 02 ngày bằng văn bản, nêu rõ nội dung, thời gian, địa điểm làm việc, việc ủy quyền điều hành đơn vị và tuân thủ theo ý kiến chỉ đạo của Bộ trưởng, Lãnh đạo Bộ phụ trách (nếu có).

+ Trong trường hợp cần giải quyết công việc cấp bách hoặc yêu cầu thời gian gấp, người đứng đầu đơn vị có thể báo cáo qua tin nhắn điện thoại, email hoặc phương tiện liên lạc khác và thực hiện theo ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ (nếu có).

- Về tổ chức đoàn công tác:

+ Đối với đoàn công tác của Lãnh đạo Bộ, đơn vị chủ trì phải ghi biên bản và trình Lãnh đạo Bộ dự thảo thông báo ý kiến và kết luận của buổi làm việc.

+ Đối với đoàn công tác của đơn vị thuộc hoặc trực thuộc Bộ, người đứng đầu đơn vị có trách nhiệm lập và tổ chức thực hiện kế hoạch đi công tác của đơn vị, và đối với đơn vị thuộc Bộ, phải trình Lãnh đạo Bộ phụ trách xem xét, phê duyệt các nội dung liên quan.

- Trường hợp đột xuất: Nếu tổ chức đoàn công tác để thực hiện nhiệm vụ đột xuất, người đứng đầu đơn vị thuộc Bộ phải báo cáo cho Bộ trưởng và Thứ trưởng phụ trách để xem xét và quyết định.

Do đó, theo quy định trên, Thứ trưởng Bộ Nội vụ phải báo cáo khi đi công tác vắng mặt từ 02 ngày làm việc trở lên, trừ trường hợp được Bộ trưởng trực tiếp phân công.

Ngoài ra, quý bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ là thành viên của Chính phủ? Nếu có bất cứ vấn đề pháp lý nào cần hỗ trợ, vui lòng liên hệ tới bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Trân trọng!