1. Điều kiện và thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp

Theo Khoản 1 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thì Điều kiện bắt người trong trường hợp khẩn cấp: 

- Có đủ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

- Người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn;

- Có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làm việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.

Thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp: 

Nội dung lệnh bắt và việc thi hành lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp phải theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 80, Điều 84, Điều 85 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

– Lệnh bắt phải ghi rõ ngày, tháng, năm, họ tên, chức vụ của người ra lệnh; họ tên, địa chỉ của người bị bắt và lý do bắt. Lệnh bắt phải có chữ ký của người ra lệnh và có đóng dấu.

– Người thi hành lệnh phải đọc lệnh, giải thích lệnh, quyền và nghĩa vụ của người bị bắt và phải lập biên bản về việc bắt.

– Biên bản phải ghi rõ ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm bắt, nơi lập biên bản; những việc đã làm, tình hình diễn biến trong khi thi hành lệnh bắt, những đồ vật, tài liệu bị tạm giữ và những khiếu nại của người bị bắt.

– Biên bản phải được đọc cho người bị bắt và những người chứng kiến nghe. Người bị bắt, người thi hành lệnh bắt và người chứng kiến phải cùng ký tên vào biên bản, nếu ai có ý kiến khác hoặc không đồng ý với nội dung biên bản thì có quyền ghi vào biên bản và ký tên.

– Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó cư trú phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người láng giềng của người bị bắt chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó làm việc phải có đại diện cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi khác phải có sự chứng kiến của đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi tiến hành bắt người.

– Người ra lệnh bắt phải thông báo ngay cho gia đình người đã bị bắt, chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó cư trú hoặc làm việc biết. Nếu việc thông báo cản trở quá trình điều tra thì sau khi cản trở đó không còn nữa, người ra lệnh bắt phải thông báo ngay.

 

2. Quyền hạn của cơ quan thực hiện việc bắt giữ

Khi thực hiện việc bắt giữ, cơ quan có thẩm quyền được thực hiện một số quyền hạn sau:

- Kiểm tra thân thể, đồ vật của người bị bắt: Để đảm bảo an toàn cho người thực hiện bắt giữ và thu giữ các tang vật, chứng cứ liên quan đến vụ án.

- Giữ người bị bắt: Đưa người bị bắt về trụ sở cơ quan để tiến hành các thủ tục điều tra.

- Khám xét nơi ở, nơi làm việc của người bị bắt: Nếu có căn cứ cho rằng tại đó có chứa các tang vật, chứng cứ liên quan đến vụ án.

- Lấy lời khai của người bị bắt: Để làm rõ hành vi phạm tội mà người đó bị nghi ngờ.

 

3. Quyền lợi và nghĩa vụ của người bị bắt

Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, và người bị bắt theo quyết định truy nã có quyền lợi và nghĩa vụ cụ thể như sau:

- Quyền thông tin: Họ có quyền được nghe và nhận bản lệnh giữ người trong các trường hợp khẩn cấp, cũng như lệnh bắt và quyết định phê chuẩn lệnh bắt. Điều này bao gồm cả quyết định truy nã mà họ đang phải đối mặt.

- Biết lý do: Họ có quyền được biết lý do cụ thể dẫn đến việc bị giữ hoặc bị bắt, giúp họ hiểu rõ hoàn cảnh của mình.

- Thông báo về quyền và nghĩa vụ: Họ có quyền được thông báo và giải thích về các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, cụ thể là tại Điều này.

- Trình bày ý kiến và lời khai: Họ có quyền trình bày lời khai và ý kiến của mình mà không bị ép buộc phải cung cấp thông tin có thể gây bất lợi cho bản thân hoặc phải thừa nhận tội lỗi.

- Đưa ra chứng cứ: Họ có quyền đưa ra các chứng cứ, tài liệu, hoặc đồ vật liên quan, cũng như yêu cầu xem xét những thông tin này.

- Yêu cầu kiểm tra chứng cứ: Họ có quyền trình bày ý kiến về các chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền tiến hành kiểm tra, đánh giá các thông tin đó.

- Tự bào chữa: Họ có quyền tự bào chữa cho mình hoặc nhờ một người khác làm người bào chữa.

- Khiếu nại: Họ có quyền khiếu nại về các quyết định và hành vi tố tụng của cơ quan hoặc người có thẩm quyền trong quá trình giữ người hoặc bắt người.

Ngoài ra, những người này cũng có nghĩa vụ chấp hành các lệnh giữ người, lệnh bắt người và những yêu cầu từ cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

(Theo Điều 58 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015)

 

4. Trách nhiệm của cơ quan thực hiện việc bắt giữ

Theo Điều 15 Thông tư liên tịch 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP, việc áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải tuân thủ các quy định chi tiết và nghiêm ngặt nhằm đảm bảo tính hợp pháp và hiệu quả trong công tác điều tra.

Trước tiên, khi đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, Cơ quan điều tra cần phải chuẩn bị một văn bản rõ ràng nêu lý do cùng với các chứng cứ, tài liệu chứng minh cho căn cứ bắt giữ. Cụ thể:

- Đối với trường hợp giữ người theo điểm a khoản 1 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, hồ sơ cần bao gồm các chứng cứ chứng minh rõ ràng rằng người bị giữ đang chuẩn bị thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

- Đối với trường hợp giữ người theo điểm b cùng khoản này, hồ sơ cần phải có biên bản ghi lời khai của những người có mặt tại hiện trường, chẳng hạn như nhân chứng hoặc bị hại, xác nhận chính xác người đó đã thực hiện tội phạm, cũng như các tài liệu hoặc căn cứ cho thấy người đó có khả năng bỏ trốn nếu không bị giữ.

- Đối với trường hợp giữ người theo điểm c khoản 1, tài liệu phải chứng minh có dấu vết, tài liệu, hoặc đồ vật của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở, nơi làm việc, hoặc trên phương tiện của người bị nghi, cùng các căn cứ xác định khả năng bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.

Khi Kiểm sát viên trực tiếp gặp gỡ và hỏi người bị giữ, cần có sự phối hợp chặt chẽ với Điều tra viên và cán bộ điều tra. Biên bản ghi lời khai của người bị giữ phải được lập bởi Kiểm sát viên và đưa vào hồ sơ vụ án.

Việc ra quyết định tạm giữ người cần thực hiện trong thời hạn 12 giờ kể từ khi Cơ quan điều tra giữ người, mà không cần chờ phê chuẩn từ Viện kiểm sát. Quyết định này có thể được ban hành đồng thời hoặc trước lệnh bắt.

Sau khi nhận được quyết định phê chuẩn lệnh bắt, Điều tra viên phải lập biên bản bắt tại cơ sở giam giữ, với sự chứng kiến của cán bộ của cơ sở đó.

Nếu Cơ quan điều tra đang thụ lý vụ án cần sự phối hợp với Cơ quan điều tra khác trong việc giữ người khẩn cấp, ngay sau khi thực hiện việc giữ, cả hai bên phải thông báo cho nhau và phối hợp để áp giải người bị giữ về trụ sở. Các tài liệu liên quan phải được đưa vào hồ sơ vụ án.

Cuối cùng, Cơ quan điều tra đã ra lệnh giữ người có thể gửi bản sao qua fax hoặc phương tiện điện tử cho bên phối hợp, nhưng sau đó cần gửi bản chính để lưu vào hồ sơ vụ án.

Bạn đọc có thể tham khảo bài viết sau: Bắt giữ là gì?
Bạn đọc có thắc mắc pháp lý có thể liên hệ qua số tổng đài 19006162 hoặc thông qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn