1. Như thế nào là gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội

Căn cứ hợp pháp của hành vi gây thiệt hại khi bắt giữ người phạm tội được quy định tại Điều 24 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hành vi gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội được quy định trong pháp luật hình sự cụ thể như sau:

"Điều 24. Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội

1. Hành vi của người để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội mà không còn cách nào khác là buộc phải sử dụng vũ lực cần thiết gây thiệt hại cho người bị bắt giữ thì không phải là tội phạm.

2. Trường hợp gây thiệt hại do sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết, thì người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm hình sự".

Việc bắt giữ tội phạm bằng cách sử dụng vũ lực và việc sử dụng vũ lực này là bắt buộc và cần thiết trong quá trình bắt giữ người phạm tội dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho người thực hiện tội phạm được pháp luật hình sự hiện hành (Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017) xem là hành vi phù hợp với lợi ích xã hội, không xâm phạm các quan hệ pháp luật mà Luật hình sự bảo vệ vì việc làm này không chỉ giúp cơ quan nhà nước có điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội mà còn có tác dụng phòng ngừa họ phạm tội lại. Do vậy, Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017 đã được bỏ sung căn cứ pháp lý hợp pháp này để nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn của xã hội. Điều 24 Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017 xác định rõ ràng các điều kiện cho phép sử dụng vũ lực, gây thiệt hại cho người bị bắt giữ khi bắt giữ họ.

Theo quy định của pháp luật hình sự thì hành vi của người để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội mà trong trường hợp này họ không còn cách nào khác là buộc phải sử dụng vũ lực cần thiết mà hậu quả là gây ra thiệt hại cho người bị bắt giữ thì trường hợp thực hiện hành vi bắt giữ này không phải là tội phạm.

Nếu trong trường hợp việc gây thiệt hại do việc sử dụng vũ lực thể hiện rõ ràng là vượt quá mức cần thiết, thì người gây ra hậu quả phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi mà mình đã gây ra.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực hình sự về tạm giam, tạm giữ khi điều tra hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

2. Điều kiện của gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội.

1.1 Cơ sở cho phép gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội

Cơ sở cho phép gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội là có “người thực hiện tội phạm” và được phép bắt giữ. Như vậy, việc cho phép này phát sinh khi có quyền bắt giữ người thực hiện tội phạm. Chỉ khi có quyền bắt giữ người thực hiện tội phạm thì vấn đề cho phép gây thiệt hại cho người bị bắt giữ mới được đặt ra. Để xác định quyền này phải dựa vào các quy định của pháp luật. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định rõ các chủ thể có quyền bắt người trong tố tụng hình sự. Trong đó, Bộ luật xác định chủ thể là người dân chỉ có quyền bắt người trong hai trường hợp. Đó là bắt “... người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm mà bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt...” (Bắt người phạm tội quả tang - Điều 111 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015) và bắt người đang bị truy nã (Điều 112 BLTTHS).

Bắt người phạm tội quả tang được pháp luật tố tụng hình sự quy định cụ thể tại Điều 111 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, cụ thể như sau:

"Điều 111. Bắt người phạm tội quả tang

1. Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm mà bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản tiếp nhận và giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

2. Khi bắt người phạm tội quả tang thì người nào cũng có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt.

3. Trường hợp Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an phát hiện bắt giữ, tiếp nhận người phạm tội quả tang thì thu giữ, tạm giữ vũ khí, hung khí và bảo quản tài liệu, đồ vật có liên quan, lập biên bản bắt giữ người, lấy lời khai ban đầu, bảo vệ hiện trường theo quy định của pháp luật; giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền".

Bắt người đang bị truy nã được pháp luật tố tụng hình sự quy định cụ thể tại Điều 112 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, cụ thể như sau:

"Điều 112. Bắt người đang bị truy nã

1. Đối với người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản tiếp nhận và giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

2. Khi bắt người đang bị truy nã thì người nào cũng có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt.

3. Trường hợp Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an phát hiện bắt giữ, tiếp nhận người đang bị truy nã thì thu giữ, tạm giữ vũ khí, hung khí và bảo quản tài liệu, đồ vật có liên quan, lập biên bản bắt giữ người, lấy lời khai ban đầu; giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền".

1.2 Nội dung và phạm vi của sự cho phép gây thiệt hại trong khi bất giữ người phạm tội

Khi có quyền bắt người thực hiện tội phạm (quyền bắt được thực hiện trong trường hợp bắt người phạm tội quả tang quy định tại Điều 111 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và bắt người đang bị truy nã được quy định tại Điều 112 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015) người thực hiện quyền này được phép sử dụng vũ lực để bắt và khi sử dụng vũ lực có thể gây thiệt hại cho người bị bắt. Việc gây thiệt hại này là cho phép, là hợp pháp. Tuy nhiên, sự cho phép này là có giới hạn. Cụ thể, phạm vi cho phép sử dụng vũ lực, gẫy thiệt hại cho người bị bắt được xác định bởi hai điều kiện:

- Việc phải sử dụng vũ lực là cách duy nhất để có thể bắt được người thực hiện tội phạm và;

- Việc sử dụng vũ lực phải trong mức độ cần thiết cho việc bắt người đó.

Để kiểm tra 2 điều kiện trên đây cần đánh giá trước hết mối tương quan giữa sự chống trả việc bắt giữ của người bị bắt giữ và khả năng bắt giữ của người bắt giữ đặt ưong hoàn cảnh cụ thể.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực hình sự về tạm giam, tạm giữ khi điều tra hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

3. Vượt quá mức cần thiết của gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội

Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về việc gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội. Ngoài ra Khoản 2 của Điều này cũng có quy định về những trường hợp vượt quá mức cần thiết của việc gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội và trách nhiệm của người thực hiện hành vi vượt quá này, cụ thể được quy định như sau:

"Điều 24. Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội

2. Trường hợp gây thiệt hại do sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết, thì người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm hình sự".

Đây là trường hợp mà người thực hiện việc bắt giữ người thực hiện tội phạm (bắt người trong trường hợp phạm tội quả tang và bắt người trong trường hợp người phạm tội đang bị truy nã) đã sử dụng vũ lực trong việc bắt giữ người nhưng vượt quá khỏi phạm vi cho phép được quy định trong luật, việc sử dụng vũ lực được thể hiện rõ ràng là vượt quá mức cần thiết cho phép trong việc bắt giữ người. Do vậy, đối với những hành vi gây thiệt hại cho người bị bắt giữ do sử dụng vũ lực không còn là hợp pháp và không được pháp luật hình sự công nhận (đã xâm phạm đến các quyền, lợi ích hợp pháp và các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ). Người thực hiện hành vi gây thiệt hại này phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Khoản 2 Điều 22 Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017 về trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.

Khoản 2 Điều 22 Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, cụ thể như sau:

"Điều 22. Phòng vệ chính đáng

1. Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.

Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.

2. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.

Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này".

Như vậy việc vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng được xem là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại. Và người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự về hành vi mà mình đã gây ra.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực hình sự về tạm giam, tạm giữ khi điều tra hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê