Mục lục bài viết
1. Tình thế cấp thiết
Theo Điều 23 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 thì :"Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm.Trong trường hợp thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, thì người gây thiệt hại đó phải chịu trách nhiệm hình sự."
.jpg)
Theo đó thì, về cấu trúc điều luật cách sắp xếp quy phạm của Điều luật này khá tương đồng với Điều luật về phòng vệ chính đáng. Chúng ta sẽ cùng phân tích điều luật này Tình thế + cấp thiết:
Nếu như Điều luật về phòng vệ chính đáng chú trọng đến tính chính đáng và giới hạn của sự cần thiết thì điều luật về tình thế cấp thiết này lại chú trọng đến tính cấp thiết và thiệt hại gây ra của hành vi. Cụ thể, sự cấp thiết ở đây đã đến mức đưa người thực hiện hành vi vào tình thế - đúng nghĩa đen – không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải gây ra một thiệt hại. Thông thường việc gây ra thiệt hại là một hành vi vi phạm pháp luật có thể là hình sự, nhẹ hơn là hành chính hay nhẹ hơn nữa là dân sự nhưng trong trường hợp này hành vi gây thiệt hại đó không phải là hành vi vi phạm NẾU thiệt hại đã gây ra nhỏ hơn thiệ hại cần ngăn ngừa.
Như vậy điều kiện cần (1) chủ thể thực hiện hành vi đã không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải gây thiệt hại và điều kiện đủ (2) thiệt hại đó phải nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa thì khi đó chủ thể sẽ được loại trừ trách nhiệm hình sự (thông thường là các tội phạm liên quan đến khách thể là quan hệ sở hữu như tội hủy hoại hoặc cố ý làm hỏng tài sản, chiếm hữu sử dụng tài sản trái phép v.v…)
Ví dụ: Vì muốn ngăn chặn đám cháy đang lây lan trong dãy dân cư liền nhau F bắt buộc phải đập nhà anh G để ngăn đám cháy lại. Trường hợp này có thể thấy F đã không còn sự lựa chọn nào khác và thiệt hại xảy ra đối với nhà anh G rõ ràng nhỏ hơn thiệt hại của cháy nhà của cả khu dân cư do đó hành vi của F thỏa dấu hiệu của tình thế cấp thiết và sẽ được loại trừ trách nhiệm hình sự trong trường hợp này.
Tuy nhiên 2 Khoản trên của điều luật đã bỏ ngỏ trường hợp thiệt hại đã gây ra bằng với thiệt hại cần ngăn ngừa.
Khoản 1 “…gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa…”
Khoản 2 “…thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết…”
Sẽ là lý tưởng và tuyệt đối nếu thiệt hại đã gây ra = thiệt hại cần ngăn ngừa (do vậy nhà làm luật không quy định trường hợp này cũng là điều dễ hiểu). Thiệt hại đã gây ra thì có thể cân đo đong đếm được nhưng thiệt hại cần ngăn ngừa (chưa xảy ra) thì rất khó để xác định và trong một số trường hợp gần như là không thể xác định được.
Do đó vẫn theo quan điểm áp dụng quy định theo hướng có lợi cho người phạm tội thì trong những trường hợp không thể xác định được hoặc xác định được nhưng cán cân thiệt hại đã gây ra và thiệt hại cần phòng ngừa tương đương nhau thì sẽ áp dụng theo hướng áp dụng tình thế cấp thiết. Trong trường hơp muốn áp dụng quy định tại Khoản 2 cơ quan công tố phải có nghĩa vụ chứng minh.
Sau khi phân tích Điều 22 Phòng vệ chính đáng và Điều 23 Tình thế cấp thiết chúng ta có thể thấy được quan điểm lập pháp của nhà làm luật. Một mặt trao quyền và khuyển khích công dân chủ động thực hiện quyền bảo vệ lợi ích chính đáng của mình và của người khác nhưng để đảm bảo việc sử dụng quyền này không bị lạm dụng khi thực hiện nhà làm luật cũng đã dự liệu luôn trường hợp vượt quá quyền thì sẽ vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự mặc dù mức hình phạt sẽ có phần nhẹ hơn so với phạm tội trong trường hợp thông thường.
2. Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội
Theo điều 24 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 thì :"Hành vi của người để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội mà không còn cách nào khác là buộc phải sử dụng vũ lực cần thiết gây thiệt hại cho người bị bắt giữ thì không phải là tội phạm.Trường hợp gây thiệt hại do sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết, thì người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm hình sự."
Như vậy, có nghĩa là, đây là một trong ba trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự mà Bộ Luật hình sự mới đã mở rộng thêm so với quy định tại các Bộ Luật hình sự cũ. Một lần nữa kỹ thuật lập pháp tại Điều luật này cũng không hề khác so với Điều 22 và Điều 23 mỗi điều đều bao gồm 2 khoản, Khoản 1 sẽ quy định về trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, Khoản 2 thì vẫn chủ thể gây thiệt hại vẫn phải chịu trách nhiệm nếu hành vi gây thiệt hại đó rõ ràng vượt quá mức cần thiết. Như tác giả đã phân tích ở 2 điều luật trước đó, quy định như hiện tại sẽ tạo ra 1 lỗ hổng pháp lý khi nếu hành vi gây thiệt hại nằm dưới mức rõ ràng quá mức nhưng lại trên mức cần thiết. Trong trường hợp này, khác với quan điểm ở 2 điều luật trên tác giả không ủng hộ áp dụng theo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội nghĩa là sẽ áp dụng Khoản 1 thay vì Khoản 2. Tác giả sẽ làm rõ hơn ở phần sau cùng của bình luận.
2.1 Về chủ thể
Tóm ý nội dung Khoản 1 bao gồm các thành phần sau:
Chủ thể: Người để bắt giữ
Hành vi: Sử dụng vũ lực cần thiết + gây thiệt hại cho người bị bắt giữ
Ý chí: Không còn cách nào khác buộc phải thực hiện
Hệ quả: Không phải là tội phạm.
Đầu tiên là vấn đề chủ thể: Hãy xem xét đến chủ thể thực hiện thực hiện hành vi bắt giữ trong điều luật này đó là “người”. Như vậy chủ thể ở đây có phải là bất cứ người nào hay không?Câu trả lời là không. Chúng ta cần phải phân định rõ việc này vì không phải ai cũng đương nhiên có quyền hoặc được trao quyền để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội.
Điều kiện cần đầu tiên để thỏa mãn dấu hiệu của Khoản 1 là người đó phải được quyền bắt giữ và đó là những ai thì phải căn cứ quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự 2015.
Một cách sơ lược có thể hiểu chỉ có một số cá nhân, tổ chức có thẩm quyền được trao quyền bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội theo trình tự thủ tục luật định (tạm gọi là người của cơ quan công quyền). Tuy nhiên trong trường hợp phạm tội quả tang thì chủ thể được quyền bắt giữ không còn bị giới hạn, nghĩa là bất cứ ai cũng được quyền bắt giữ một người đang phạm tội quả tang (tạm gọi là công dân).Như vậy chủ thể thuộc pham vi điều chỉnh của Điều 24 không phải là một chủ thể đặc biệt mà là bất kỳ người nào thực hiện hành vi bắt giữ (phải hiểu ở đây là được quyền bắt giữ theo quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự).
2.2 Về hành vi
Tiếp theo đến hành vi: Sử dụng vũ lực cần thiết + gây thiệt hại cho người bị bắt giữ
Đến đây tiếp tục một lần nữa từ cần thiết được sử dụng và đây là một từ mang tính định tính rất cao, phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí chủ quan của người thực hiện việc sử dụng vũ lực và đôi khi là của người thuộc cơ quan điều tra, truy tố xét xử nếu hành vi đó bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Thiệt hại xảy ra cho người bị bắt giữ thông thường sẽ là những thiệt hại về sức khỏe, nhẹ có thể ở mức gây thương tích, nặng có thể dẫn đến gây tử vong, bên cạnh đó có thể là những thiệt hại về tài sản kèm theo như đang thực hiện hành vi cướp giật, bị truy đuổi và bị đạp ngã xe gây thiệt hại về người và tài sản.
2.3 Về ý chí
Sau cùng là ý chí: Không còn cách nào khác buộc phải thực hiện. Không còn cách nào khác ở đây sẽ rõ ràng và có căn cứ hơn đối với những người thuộc cơ quan công quyền vì quy trinh bắt giữ đã được quy định rất rõ trong hoạt động nghiệp vụ riêng. Tuy nhiên đối với chủ thể bắt giữ là công dân thì việc xác định không còn cách nào khác hay vẫn còn cách nào khác là một việc rất khó để xác định trong bối cảnh bắt giữ người phạm tội quả tang, tính cấp thiết của viêc bắt giữ đặt ra rất nhanh trong khi họ không có chuyên môn nghiệp vụ để phán đoán và đưa ra cách hành xử đúng đắn nhất, do đó nguy cơ nhóm chủ thể này dễ vượt quá quy định tại Khoản 1 để rơi vào Khoản 2, tức là phải chịu trách nhiệm hình sự sẽ cao hơn.
Quy định trên là một quy định mới cho thấy phần nào việc gây thiệt hại cho người bị bắt giữ (đa phần là thiệt hại về sức khỏe, tính mạng) ở một mức độ cần thiết là hành vi hợp pháp nếu thỏa mãn các điều kiện còn lại. Dù là quy định mới nhưng tác giả không cho rằng đó là một tiến bộ. Bởi lẽ khách thể bị tác động đến là sức khỏe tính mạng chứ không chỉ đơn thuần như là những thiệt hại về tài sản như trong tình thế cấp thiết. Minh chứng rất rõ trong những thời gian qua có hàng loạt những hành vi sử dụng vũ lực một cách khá tự do gây thiệt hại nghiêm trọng về sức khỏe, thậm chí là tính mạng của những người phạm tội quả tang như trộm chó. Rất nhiều những người trộm chó đã bị đánh đến tử vong. Bên cạnh đó có rất nhiều những vụ án oan sai xuất phát từ việc bức cung, ép cung, dùng nhục hình đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của cơ quan công quyền và gây thiệt hại về Ngân sách nhà nước bởi những khoản tiền bồi thường lên đến hàng chục tỉ đồng. Hiện trạng trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân nhưng một phần không nhỏ là do sự lạm dụng quyền sử dụng vũ lực để bắt giữ khi cho rằng điều đó là cần thiết và không còn cách nào khác. Thực sự, khung pháp lý cho vấn đề này rất yếu, lỏng lẻo dễ tạo cơ hội để những người bắt giữ gây thiệt hại cho người bị bắt giữ nhưng được loại trừ trách nhiệm hình sự, đặc biệt là những người thuộc cơ quan công quyền vì họ rất dễ để chứng minh cho sự cần thiết của việc sử dụng vũ lực đó.
Một vấn đề rất quan trọng là người bị bắt giữ chưa phải là người phạm tội cho đến khi có bản án có hiệu lực thi hành (theo nguyên tắc suy đoán vô tội) vì thế cho nên họ có quyền được bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, tài sản v.v…Điều luật trên xét ở một khía cạnh nào đó đã làm cho việc tuân thủ nguyên tắc suy đoán vô tội bị ảnh hưởng ít nhiều. Tâm lý của người bắt giữ cũng sẽ thoải mái hơn trong việc sử dụng vũ lực thay vì phải cân nhắc thật kỹ lưỡng như trước đây.
3. Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ
Theo quy định tại Điều 25 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 thì: "Hành vi gây ra thiệt hại trong khi thực hiện việc nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới mặc dù đã tuân thủ đúng quy trình, quy phạm, áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa thì không phải là tội phạm. Người nào không áp dụng đúng quy trình, quy phạm, không áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa mà gây thiệt hại thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự."
Đây là trường hợp mới được đưa vào danh sách những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự. Theo đánh giá chủ quan đây là một trường hợp thể hiện rất sâu sắc tinh thần vực dậy thúc đẩy nền kinh tế của đất nước chúng ta. Có thể thấy chính sách kinh tế đã ảnh hưởng không chỉ đến hệ thống các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực dân sự thương mại mà còn ảnh hưởng cả đến những quy định của pháp luật hình sự. Trong phát triển kinh tế việc đẩy mạnh nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới là điều tất yếu và có thể nói là ưu tiên hàng đầu đối với Việt Nam một đất nước mà cơ cấu thành phần kinh tế vẫn đang phụ thuộc vào nông nghiệp thuần túy (chưa áp dụng được nhiều những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại), công nghiệp và dịch vụ còn nhiều hạn chế. Chúng ta đều biết đã là nghiên cứu, thử nghiệm thì khả năng rủi ro rất cao đôi khi phải trả giá bằng chính sức khỏe thậm chí là mạng sống của con người như việc nghiên cứu chế tạo các loại thuốc, vắc xin mới trong lĩnh vực y tế v.v…Do đó nguy cơ chủ thể thực hiện những nghiên cứu thử nghiệm xâm phạm đến khách thể được luật hình sự bảo vệ là đúng.
Tuy nhiên điều luật trên vẫn còn một vài điểm chưa ổn cần phải làm rõ:
Thứ nhất: Tên điều luật và nội hàm quy định tại Khoản 1 không thống nhất. Cụ thể Điều 25 chỉ nêu …nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ. trong khi đó Khoản 1 lại quy định…nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới… Vậy một câu hỏi đặt ra mới ở đây là mới hoàn toàn hay chỉ cần có yếu tố mới? và nếu nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng những tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ không mới thì có thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 25 hay không?
Câu hỏi thứ hai, ranh giới giữa được loại trừ trách nhiệm và không loại trừ trách nhiệm đó là việc người thực hiện đã áp dụng đúng quy trình, quy phạm, đầy đủ biện pháp phòng ngừa hay chưa? Vậy trong trường hợp bản thân quy trình không đảm bảo, vốn dĩ đã có khiếm khuyết thì người thực hiện đã áp dụng đúng nhưng vẫn gây ra thiệt hại thì có được miễn trách nhiệm hay không, thêm vào đó vấn đề trách nhiệm của những người ban hành quy trình quy phạm khiếm khuyết đó ở chỗ nào?
Hai câu hỏi trên bản thân tác giả hay bạn đọc cũng khó mà đưa ra một câu trả lời hợp lý nhất. Vậy nên đành chờ hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền hoặc sửa đổi nếu có của các nhà lập pháp.
3. Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên
Người thực hiện hành vi gây thiệt hại trong khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nếu đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp này người ra mệnh lệnh phải chịu trách nhiệm hình sự. Quy định này không áp dụng đối với các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 421, khoản 2 Điều 422 và khoản 2 Điều 423 của Bộ luật này.
Đây là trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự cuối cùng được thêm vào trong Bộ Luật hình sự này so với các Bộ Luật hình sự trước đây. Quy định rất rõ ràng, chủ thể không phải là bất cứ người nào mà phải là người trong lực lượng vũ trang nhân dân và người đó phải là người có chỉ huy hoặc cấp trên, nghĩa là điều luật sẽ không áp dụng đối với người có vị trí cao nhất.
Hành vi gây thiệt hại phải là hành vi thực hiện theo mệnh lệnh sau khi đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh. Như vậy không phải bất kỳ trường hợp nào người gây ra thiệt hại khi thực hiện theo mệnh lệnh của chỉ huy hoặc cấp trên đều được loại trừ trách nhiệm mà khi và chỉ khi họ đã thực hiện việc báo cáo lại nhưng vẫn bắt buộc phải thi hành. Quy định này một mặt đảm bảo tính nguyên tắc, kỷ luật trong lực lượng vũ trang nhân dân, tính đặc thù trong mối quan hệ giữa chỉ huy, cấp trên với thuộc cấp là tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh của cấp trên. Tuy nhiên, không phải lúc nào người đưa ra mệnh lệnh cũng sáng suốt và tỉnh táo, do đó trong trường hợp thuộc cấp hoài nghi về tính đúng đắn của mệnh lệnh thì sẽ thực hiện việc báo cáo theo đúng quy trình, sau đó nếu vẫn bắt buộc phải thực hiện mệnh lệnh thì người thực hiện sẽ được loại trừ trách nhiệm và người ra mệnh lệnh mới là người chịu trách nhiệm.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê