Kính thưa quý khách hàng!

Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Chúng tôi nhận được yêu cầu của quý khách liên quan đến nội dung cụ thể như sau:

NỘI DUNG YÊU CẦU

Tóm tắt vụ việc từ hồ sơ khách hàng cung cấp:

- Ngày 27/12/2017 ông ABC gửi đơn đế UBND thành phố XYZ với nội dung: Đề nghị UBND thành phố thu hồi hoặc hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên AA, lý do đã cấp trùng cả diện tích đất rừng của gia đình ông ABC vào giấy CNQSDĐ của ông AA

- Ngày 25/7/2018 UBND thành phố XYZ ban hành thông báo số 669/TB-UBNS đến hộ ông AA về việc thu hồi GCNQSDĐ đã cấp cho hộ ông AA, trú tại thôn Bình Cằm, xã XX, thành phố XYZ, tỉnh XYZ.

- Ngày 11/6/2020 UBND Thành phố XYZ ban hành quyết định số 1113/QĐ-UBND về việc thu hồi GCNQSDĐ số vào sổ cấp GCNQSDĐ: CH -01132 do UBND thành phố XYZ cấp ngày 19/6/2012 mang tên hộ ông AA, đất tại xã XX, thành phố XYZ.

- Ngày 12/10/2020 UBND thành phố XYZ ban hành Quyết định số 2520/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông AA trú tại thôn Bình Cằm, xã XX, thành phố XYZ.(lần đầu)

- Ngày 5/4/2021 UBND tỉnh XYZ ban hành quyết định số 739/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông AA, trú tại thôn Bình Cằm, xã XX, thành phố XYZ. (lần 2)

TRẢ LỜI:

CƠ SỞ PHÁP LÝ

- Luật đất đai 200.3;

- Luật đất đai 2013;

- Luật đất đai 199.3;

- Luật khiếu nại 2011;

- Luật tố tụng hành chính 2015;

- Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành luật đất đai;

- Nghị định 148/2020/NĐ-CP sửa đổi một số nghị định hướng dẫn luật đất đai;

- Thông tư 346/1998/TT-TCĐC hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Tổng cục địa chính ban hành;

NỘI DUNG TƯ VẤN

Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người đang sử dụng đất ổn định mà không có nguồn gốc được Nhà nước giao đất, cho thuê đất thông qua việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu đối với thửa đất xác định.

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.

Ngày 11/6/2020 UBND Thành phố XYZ ban hành quyết định số 1113/QĐ-UBND về việc thu hồi GCNQSDĐ số vào sổ cấp GCNQSDĐ: CH-01132 do UBND thành phố XYZ cấp ngày 19/6/2012 mang tên hộ ông AA, đất tại xã XX, thành phố XYZ. Trong quyết định này, lý do thu hồi như sau:

Căn cứ điểm d, khoản 2, Điều 106, Luật đất đai năm 2013, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số và sổ cấp giấy chứng nhận CH -01132 do UBND thành phố XYZ cấp ngày 19/6/2012 cho hộ ông AA trong đó có thửa số 92 với toàn bộ diện tích 5.459,0m2, tờ bản đồ địa chính số 61 xã XX là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã không đúng quy định pháp luật về đất đai (không đúng đối tượng sử dụng đất).

Ngày 8/7/2020 ông AA có đơn khiếu nại đối với nội dung của quyết định số 1113/QĐ-UBND ngày 11/6/2020 của UBND thành phố XYZ.

Ngày 12/10/2020 UBND thành phố XYZ ban hành Quyết định số 2520/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông AA trú tại thôn Bình Cằm, xã XX, thành phố XYZ.(lần đầu)

Ông AA không đồng ý với quyết định 2520/QĐ-UBND nên ngày 3/12/2020 ông AA khiếu nại lần 2 đến chủ tịch UBND tỉnh XYZ đề nghị hủy quyết định số 2520/QĐ-UBND.

Ngày 05/4/2021 UBND tỉnh XYZ ban hành quyết định 739/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông AA, trú tại thôn Bình Cằm, xã XX, thành phố XYZ. (lần 2)

Vụ việc của Qúy khách đã khiếu nại hai lần, đã được cơ quan có thẩm quyền giải quyết hai lần. Tuy nhiên, kết quả khiếu nại vẫn giữ nguyên quyết định số 1113/QĐ-UBND về việc thu hồi GCNQSDĐ số vào sổ cấp GCNQSDĐ: CH -01132 do UBND thành phố XYZ cấp ngày 19/6/2012 mang tên hộ ông AA, đất tại xã XX, thành phố XYZ

Điều 42 Luật khiếu nại 2011 quy định như sau:

Điều 42. Khởi kiện vụ án hành chính

Hết thời hạn giải quyết khiếu nại quy định tại Điều 37 của Luật này mà khiếu nại không được giải quyết hoặc người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trong tình huống này, nếu Qúy khách không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai này thì Qúy khách thực hiện khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định.

Trong vụ việc này, theo quan điểm của Luật Minh Khuê Qúy khách tiến hành khởi kiện vụ án hành chính kèm theo chứng minh những lý do sau:

Thứ nhất, về nguồn gốc sử dụng đất

Ngày 19/5/2000 UBND thị xã (nay là thành phố XYZ) đã cấp GCNQSDĐ số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 01596 QSDĐ/113/2000QĐ-UB (H) với tổng diện tích là 49.645 gồm 4 thửa đất, trong đó có thử số 92, diện tích 5459,0m2.

Thời điểm ông AA được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tháng 5 năm 2000. Thời điểm này thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện theo Thông tư 346/1998/TT-TCĐC do Tổng cục địa chính ban hành vì thông tư này có hiệu lực từ ngày 16/03/1998, Hết hiệu lực ngày 15/12/2001.

Theo điểm IV.1 mục IV phần I quy định:

“ IV.1. UBND xã, phường, thị trấn có trách nhiệm xét để xác định quyền sử dụng đất hợp pháp của từng chủ sử dụng đất trên từng thửa đất khi đăng ký đất ban đầu. Nội dung xét cụ thể là:

+ Xác định rõ nguồn gốc sử dụng đất, thời điểm sử dụng, những biến động phát sinh trong quá trình sử dụng;

+ Xác định hiện trạng sử dụng về các mặt: mục đích sử dụng, ranh giới sử dụng, tình trạng tranh chấp và một số đặc điểm đặc biệt khác.”

Theo quy định này, rõ ràng việc xác định nguồn gốc sử dụng đất không chỉ dựa trên việc ông AA kê khai. Mà UBND xã, phường, thị trấn cũng phải có trách nhiệm Xác định rõ nguồn gốc sử dụng đất, thời điểm sử dụng, những biến động phát sinh trong quá trình sử dụng;

Vậy vấn đề đặt ra là tại sao ngay tại thời điểm đó UBND xã không phát hiện ra việc ông Thắng kê khai sai cũng như xác định được rằng trong sổ Mục kê đất đai - quyển số 02 lập theo khi đo vẽ bản đồ địa chính xã XX lập năm 1998, thì thửa số 92, tờ 61, diện tích 5.459m2 mục đích sử dụng là đất vườn đồi đứng tên ông ABC. Việc này hoàn toàn xác định được dễ dàng vì như UBND xác định thì được thể hiện trong sổ Mục kê đất đai - quyển số 02

UBND thành phố XYZ luôn dựa trên nguồn gốc đất mà ông AA đã kê khai sai để xác định rằng việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Thắng là sai quy định là hoàn toàn chưa đủ thuyết phục vì vấn đề “nguồn gốc sử dụng đất” không phải là căn cứ duy nhất đề cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất?

Thứ hai, trong quyết định 2520/QĐ-UBND ngày 12/10/2020 của UBND thành phố XYZ có ghi nhận như sau

: “ông ABC cho biết: Ông sinh ra tại thôn Bản Bảm, xã Yên Trạch, huyện Cao Lộc đến năm 1986, gia đình ông chuyển đến thôn Bình Cằm, xã XX dựng nhà để ở và canh tác trồng khoai sắn để sinh sống, vào thời điểm đó đất đều thuộc Lâm trường Yên Trạch, huyện Cao lộc quản lý. Đến năm 1993 khi đội lâm nghiệp thuộc Lâm trường tên Trạch giải thế thì ông Tình lên khu đồi Co Mặn (thửa đất đô 92, tờ bản đồ số 61, xã XX) để trồng thông và gia đình quản lý từ đó cho đến năm 2014 thì xảy ra tranh chấp..”

Vậy tại sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông AA đã được cấp năm 2000, trong hơn mười năm ông Thắng sử dụng? ông Tình không có ý kiến nào? Vậy nội dung này ông Tình không biết? hay lý do vì sao?

Thứ ba, Qúy khách nên tiến hành thu thập lấy lời khai

Xác nhận của những người biết việc gia đình Qúy khách là người trực tiếp sử dụng diện tích đất tại thửa đất số 92, diện tích 5459,0m2.

Thứ tư, điểm 1 khoản I.2.3 mục I phần II Thông tư 346/1998/TT-TCĐC quy định:

“I.2.3. Tổ chức kê khai đăng ký đất đai:

3. Chủ sử dụng đất kê khai và nộp hồ sơ kê khai tại UBND xã (phường, thị trấn), hồ sơ bao gồm:

+ Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất;

+ Các giấy tờ pháp lý kèm theo về nguồn gốc của đất đang sử dụng; + Bản đồ địa chính khu đất hoặc sơ đồ trích đo thửa đất (đối với các trường hợp đăng ký đơn lẻ);

+ Tờ khai sử dụng đất (đối với các tổ chức trong nước đã kê khai sử dụng đất theo Chỉ thị 245/TTg ngày 22/4/1996 của Thủ tướng Chính phủ);

+ Văn bản xác nhận nhu cầu sử dụng đất của ngành chủ quản hoặc UBND cấp tỉnh (đối với các tổ chức trong nước sử dụng đất).”

Theo quy định này, khi kê khai hồ sơ trong hồ sơ sẽ có Bản đồ địa chính khu đất hoặc sơ đồ trích đo thửa đất. Vì vậy, Qúy khách nên tiến hành thu tập các nội dung này để thêm vào hồ sơ khi tiến hành khởi kiện.

Ttheo phân tích trên Qúy khách có thể tiến hành thủ tục khởi kiện hành chính quyết định thu hồi đất của UBND.

Tuy nhiên, cần xác định rằng để theo đuổi vụ kiện hành chính Qúy khách cần xác định, thu thập thêm chứng cứ, cần chuẩn bị tinh thần cũng như công sức để theo đuổi vụ kiện.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi vềTư vấn về quyết định thu hồi GCNQSDĐ”. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và hồ sơ do quý khách cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để quý khách tham khảo. Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng cảm ơn!

Bộ phận tư vấn Pháp luật

Công ty Luật TNHH Minh Khuê