1. Thủ tục ly hôn khi chồng không có trách nhiệm ?

Kính gửi luật sư: tôi lấy chồng từ tháng 03 năm 2016 đến tháng 08 năm 2017 thì tôi sinh con đầu lòng, trong khoảng thời gian tôi mang thai và sinh con đến nay khi cháu đã được 09 tháng tuổi thì chồng tôi không hề đóng góp cho tôi nuôi con và cũng không có trách nhiệm với con. Hiện tại vợ chồng tôi đang ở xa nhau, chồng tôi làm Công an và đang được đi tăng cường ở huyện cùng tỉnh đến hết năm 2018, một tháng chồng tôi vẫn về nhà 2 lần. Tôi muốn xin ly hôn đơn phương nhưng chồng tôi không đồng ý và nói chỉ đồng ý khi con do anh nuôi. Hộ khẩu của nhà anh chỉ có tên người trong gia đình anh mà không có tên tôi, trước khi quen tôi anh có khoản nợ người thân là 50 triệu đồng và nợ ngân hàng là 20 triệu đồng mà anh không nói cho tôi biết trước. Sau khi cưới anh đòi tiền và vàng của tôi nói là để trả nợ.
Chồng tôi thu nhập khoảng hơn 11 triệu/ tháng, có nhà riêng nhưng khoảng gần cuối năm 2016 chồng tôi có mua một mảnh đất không có sổ đỏ hạn thuê 50 năm (mảnh đất này anh tự làm thủ tục và không có tên tôi) anh làm thủ tục vay ngân hàng khoảng 200 triệu, trả qua lương là 5,6 triệu/tháng. Thu nhập của tôi khoảng 5 triệu/tháng, sau ly hôn tôi sẽ về sống cùng bố mẹ đẻ.
Vậy xin luật sư cho tôi biết thủ tục ly hôn, quyền nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con? Nếu chồng tôi đang có nợ ở ngân hàng như vậy thì có được giành quyền nuôi con không. Nếu không thì chồng tôi có quyền xin tòa miễn giảm trợ cấp nuôi con do đang vay nợ không?
Tôi rất muốn được nuôi dưỡng con, mong luật sư tư vấn giúp tôi. Tôi xin cám ơn luật sư.

Luật sư tư vấn:

Trong trường hợp của bạn, bạn đang có ý định muốn ly hôn với chồng bạn thì căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp, bạn có có thể ly hôn khi hai vợ chồng bạn không còn tình cảm, chồng bạn không quan tâm, chăm sóc vợ con cũng như không cấp dưỡng cho hai mẹ con bạn mặc dù mức lương của chồng bạn nhiều hơn bạn. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì bạn hoàn toàn có quyền ly hôn đơn phương với chồng bạn khi:

"Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được."

Về hồ sơ ly hôn bạn cần chuẩn bị giấy tờ sau:

- Đơn đơn phương ly hôn hoặc đơn khởi kiện về việc ly hôn: viết tay, đánh máy hoặc đến trực tiếp Tòa án xin mẫu đơn ly hôn/Đơn khởi kiện về việc ly hôn;

- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn bản chính;

- Bản sao Sổ Hộ khẩu có chứng thực hoặc có công chứng;

- Bản sao Chứng minh nhân dân/Thẻ căn cước công dân có chứng thực hoặc có công chứng của người nộp đơn ly hôn;

- Bản sao giấy khai sinh của các con có chứng thực hoặc công chứng;

- Giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất và các tài sản khác nếu có.

Về thủ tục ly hôn:

Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 191 Bộ luật Tố Tụng dân sự năm 2015 quy định Thủ tục nhận và xử lý đơn khởi kiện:

“2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây:

a) Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;

b) Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật này;

c) Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;

d) Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.”

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì thời hạn chuẩn bị xét xử ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn là 04 tháng. Trong thời gian chuẩn bị xét xử thì Thẩm phán được phân công xét xử vụ án sẽ tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

Trong trường hợp hòa giải thành, Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo điều 212 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:

“Điều 212. Ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự

1. Hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, Tòa án phải gửi quyết định đó cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp.

2. Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.”

Theo Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về Sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự như sau:

Điều 227. Sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

1. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa; nếu có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Tòa án phải thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về việc hoãn phiên tòa.

2. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; nếu vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án có thể hoãn phiên tòa, nếu không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì xử lý như sau:

a) Nguyên đơn vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật;

b) Bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ;

c) Bị đơn có yêu cầu phản tố vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu phản tố và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố, trừ trường hợp bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu phản tố đó theo quy định của pháp luật;

d) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó theo quy định của pháp luật;

đ) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Như vậy, trong trường hợp vợ là người nộp đơn khởi kiện - vợ là nguyên đơn trong vụ án, thì chồng là bị đơn, lúc này:

- Khi người chồng được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, nhưng người chồng vắng mặt mà không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa;

- Khi người chồng được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, mà không có yêu cầu phản tố, vắng mặt không có người đại diện tham gia phiên tòa thì tòa án vẫn xét xử vắng mặt họ; Trong đó, yêu cầu phản tố được hiểu là việc bị đơn khởi kiện lại nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Mục đích của yêu cầu phản tố là để bù trừ nghĩa vụ, khấu trừ nghĩa vụ hoặc loại trừ một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.

Khi người chồng được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, có yêu cầu phản tố, mà vắng mặt thì bị coi là từ bỏ yêu cầu phản tố và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố, trừ trường hợp người chồngcó đơn đề nghị xét xử vắng mặt;

- Trong trường hợp, vợ là nguyên đơn khởi kiện vụ án mà vắng mặt tại phiên tòa mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó.

Sau các lần Tòa án đưa ra xét xử thì Thẩm phán giải quyết vụ việc sẽ ra Bản án hoặc Quyết định về việc ly hôn của hai vợ chồng bạn.

Về quyền nuôi con sau ly hôn:

Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn như sau:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Theo thông tin bạn cung cấp, con bạn hiện nay mới được 09 tháng tuổi. Lúc này, bạn sẽ được Tòa án giao con để trực tiếp nuôi dưỡng sau khi vợ chồng bạn ly hôn vì con của bạn đang dưới 36 tháng tuổi, độ tuổi này cần có sự chăm sóc, giáo dục từ người mẹ để đảm bảo phát triển tinh thần, thể chất tốt nhất cho trẻ em. Tuy nhiên, để chắc chắn giành được quyền nuôi dưỡng con sau khi ly hôn thì bạn cần chứng minh được mình có đủ điều kiện, đủ khả năng để nuôi dưỡng, chăm sóc tốt nhất cho con của bạn, còn phía chồng bạn thì không có điều kiện chăm sóc con vì anh ấy đi làm xa nhà, bố mẹ anh ấy cũng không có khả năng chăm sóc con cho anh ấy. Bên cạnh đó, chồng bạn cũng đang nợ tiền ngân hàng, hàng tháng đều phải trả 5.600.000 đồng cho ngân hàng trừ từ tiền lương của chồng bạn mà mức lương của chồng bạn chỉ có 11.000.000 đồng/tháng, đây cũng là bất lợi rất lớn đối với chồng bạn.

Về mức cấp dưỡng cho con sau ly hôn:

Căn cứ theo quy định tại Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con:

"Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con."

Theo đó, cả bạn và chồng bạn đều có nghĩa vụ cấp dưỡng để nuôi con khi con bạn chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình cho đến khi con bạn đã thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình hoặc con bạn đã được nhận làm con nuôi. Trong trường hợp sau khi ly hôn, bạn được Tòa án giao trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con sau ly hôn thì chồng bạn sẽ là người cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn vì chồng bạn không phải là người trực tiếp nuôi dưỡng con theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng do hai bên vợ chồng bạn thỏa thuận với nhau đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng cho người được cấp dưỡng cũng như người có nghĩa vụ cấp dưỡng, phụ thuộc vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng, pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể về mức cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn. Nếu không thỏa thuận được mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng thì hai bạn có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 116 và Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

"Điều 116. Mức cấp dưỡng

1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Điều 117. Phương thức cấp dưỡng

Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần.

Các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết."

Như vậy, trong trường hợp, chồng bạn không có khả năng, không có điều kiện để cấp dưỡng cho con bạn thì hai vợ chồng có thể tự thỏa thuận với nhau về mức cấp dưỡng sao cho phù hợp với mức thu nhập của chồng bạn, đồng thời phù hợp với độ tuổi của con. Hai bạn cũng có thể lựa chọn phương thức cấp dưỡng hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần để việc cấp dưỡng có thể được thực hiện tốt nhất, đảm bảo lợi ích tốt nhất cho con của bạn sau khi vợ chồng bạn ly hôn.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về yêu cầu của bạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Tư vấn về bán tài sản sau khi ly hôn ?

Kính thưa luật sư: Tôi và chồng tôi kết hôn năm 2007 và ly hôn năm 2011. Năm 2009 tôi có mua 1 mảnh đất đứng tên tôi bằng tiền của tôi và bố tôi. Khi ly hôn chúng tôi không kê khai tài sản. Chồng tôi cũng công nhận miếng đất là của tôi và không có tranh chấp gì. Nay tôi muốn bán miếng đất này, nhưng phòng công chứng yêu cầu chống tôi phải kí tên vào hợp đồng chuyển nhượng.
Có cách nào chứng minh đây là tài sản của tôi và không có liên quan đến chồng tôi không?

Thủ tục ly hôn khi chồng không đóng góp nuôi con và không có trách nhiệm với con?

Luật sư tư vấn hôn nhân gia đình: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng..."

- Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình quy định:

"Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này."

- Việc bạn mua mảnh đất đó trong thời kì hôn nhân và không thỏa thuận gộp vào khối tài sản chung. Nhưng không viết giấy cam kết, vì vậy trong trường hợp này bạn cần:

+ Yêu cầu chồng viết Giấy cam kết với nội dung: bạn đã mua đất bằng tiền riêng của bạn, chồng bạn không có liên quan gì đến mảnh đất đó. Hai vợ chồng bạn có thể đến tổ chức công chứng có thẩm quyền để yêu cầu công chứng văn bản cam kết này. Sau khi có văn bản cam kết này thì bạn có thể toàn quyền sử dụng, quản lý, định đoạt mảnh đất mà bạn mua.

+ Nếu chồng bạn không đồng ý cam kết nội dung nêu trên và trong trường hợp có tranh chấp xảy ra thì khi vụ việc được đưa ra tòa án có thẩm quyền để được giải quyết thì bạn phải đưa ra các căn cứ chứng minh mảnh đất do bạn và bố bạn mua bằng tiền riêng của mình, ví dụ: giấy tờ mua nhà do bạn mua và kí tên, mức thu nhập hàng tháng của bạn, giấy tờ hay bằng chứng chứng minh số tiền mà bố bạn đã cho bạn mua nhà,...

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Có đòi lại đất nhờ cha mẹ vợ đứng tên khi hai vợ chồng ly hôn ?

Chào luật sư, tôi có vướng mắc cần nhờ luật sư giải đáp . Năm 2010 , vợ chồng tôi có dùng tài sản chung của gia đình mua một miếng đất và nhờ cha mẹ vợ đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất .
Năm 2014 tôi yêu cầu cha mẹ vợ sang tên quyền sử dụng đất cho vợ chồng tôi nhưng ông không đồng ý. Sau đó tôi viết đơn kiến nghị gửi đến Ủy ban nhân dân xã nơi cha mẹ vợ cư trú giải quyết việc cha mẹ vợ không đồng ý sang tên quyền sử dụng đất cho vợ chồng tôi. Khi Ủy ban nhân dân xã mời cha mẹ vợ đến giải quyết hòa giải theo đơn kiến nghị của tôi thì ông trả lời như sau: 1.500 mét vuông đất ruộng đó ông đứng dùm cho con gái và con rể muốn ông sang tên quyền sử dụng đất thì phải trả cho ông 20 triệu đồng tiền nợ. Nói rồi ông ký vào biên bản hòa giải.
Tôi cũng ký vào biên bản hòa giải trong biên bản hòa giải cũng có ghi câu nói này của ông. Thành phần của Ủy ban xã tham dự có: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, Chủ tịch mặt trận xã, Chủ tịch Hội phụ nữ xã, Trưởng phòng địa chính xã, Chủ tịch hội nông dân xã, Trưởng công an xã, Đại diện văn hóa xã, Đại diện Tổ tiếp nhận hồ sơ công dân xã, Đại diện Đoàn thanh niên xã. Sau đó tôi bàn bạc với vợ trả số nợ nói trên cho cha mẹ vợ để được sang tên quyền sử dụng đất. Nhưng vợ tôi không đồng ý rồi viết đơn ly hôn gửi tới tòa án nơi chúng tôi đăng ký tạm trú. Trong đơn ly hôn vợ tôi không thừa nhận số nợ và số đất nói trên,vợ tôi cũng nói là đất của cha mẹ vợ không liên quan đến vợ tôi.
Khi tòa án mời cho mẹ vợ đến với tư cách là người liên quan và văn bản hòa giải trước đây là không có giá trị. Vậy luật sư cho tôi biết theo biên bản hòa giải mà cha mẹ vợ đã ký thì diện tích đất nông nghiệp đó có phải là tài sản chung của vợ chồng tôi không ? Số tiền nợ mà tôi đã ký trong biên bản hòa giải là nợ riêng của tôi hay là nợ chung của vợ chồng tôi?
Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Có đòi lại đất nhờ cha mẹ vợ đứng tên khi hai vợ chồng ly hôn hay không ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

3.1. Xác định nợ chung và tài sản chung của vợ chồng trong thời ký hôn nhân .

Theo quy định tại Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội xác định nghĩa vụ chung của vợ chồng thì:

iều 37. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng

Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan."

Vậy khoản nợ 20 triệu đồng với cha mẹ vợ , do là khoản tiền hai vợ chồng bạn cùng vay và dùng vào mục đích chung cho cả gia đình nên hai vợ chồng bạn đếu có nghĩa vụ phải trả khoản nợ này .

Tài sản chung của vợ chồng được quy định như sau:

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Tuy nhiên, tài sản là đất đai thì anh chị phải đăng ký quyền sử dụng đất đứng tên cả hai người hoặc cử ra một người làm đại diện quản lý.

Điều 34. Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung

1. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì giao dịch liên quan đến tài sản này được thực hiện theo quy định tại Điều 26 của Luật này; nếu có tranh chấp về tài sản đó thì được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật này.

Hiện tại, pháp luật chưa thừa nhận việc nhờ đứng tên hộ, vì vậy bạn muốn chứng minh rằng miếng đất này là của hai vợ chồng bạn sẽ gặp nhiều khó khăn mà nên chứng minh theo hướng bạn đưa tiền cho bố mẹ vợ mua đất và yêu cầu đòi lại tài sản là số tiền này .

3.2. Biên bản hòa giải của UBND xã có giá trị pháp lý không ?

Biên bản hòa giải mà hai bên đã lập tại UBND cấp xã không có giá trị buộc các bên phải thi hành theo nhưng trong văn bản hòa giải này đã thể hiện nội dung rằng bố mẹ vợ bạn thừa nhận rằng đứng tên hộ vợ chồng bạn, thì văn bản này có giá trị chứng minh những lời trình bày của bạn trước tòa là hoàn toàn đứng sự thật.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tư vấn quyền nuôi con khi ly hôn theo quy định mới năm 2020 ?

4. Mất hết giấy tờ có ly hôn được không ?

Thưa Luật sư, tôi sinh năm 1976, hộ khẩu tại Thái Bình. Tôi kết hôn năm 2006, đăng ký kết hôn tại UBND phường Thanh Xuân Trung - Quận Thanh Xuân - Hà Nội. Sau khi kết hôn tôi mua nhà và nhập hộ khẩu về số nhà 05 ngách 336/9 Nguyễn Trãi Thanh Xuân - Hà Nội. Năm 2007 chúng tôi sinh được 1 cháu gái.

Do không hợp nhau, làm ăn thua lỗ nên chúng tôi bán nhà và sống ly thân từ năm 2010 . Tất cả các giấy tờ ( CMT, đăng ký kết hôn, hộ khẩu của tôi và vợ, giấy khai sinh của con) đều mất hết . Năm 2011 tôi về quê Thái Bình mở công ty và làm lại CMND , hộ khẩu , giấy khai sinh của con tại Thái Bình. Từ khi ly thân vợ tôi đã có con với người khác . Hiện con gái đang ở với tôi tại Thái Bình.

Nay vợ chồng tôi muốn làm thủ tục ly hôn khi mất hết các loại giấy tờ có được không?

Xin cảm ơn Luật sư.

Người gửi: N.T.K

Mất hết giấy tờ có ly hôn được không?

Tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến qua tổng đài: 1900.6162

Luật sư phân tích

Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định về trường hợp ly hôn đơn phương như sau:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. [...]"

Như vậy bạn hoàn toàn có quyền ly hôn đơn phương.

Thủ tục ly hôn đơn phương:

Hồ sơ ly hôn bao gồm các giấy tờ sau:

- Bản chính ĐKKH;

- Bản sao có chứng thực CMND, sổ hộ khẩu của vợ,chồng;

- Bản sao có chứng thực Giấy khai sinh của con;

- Đơn xin ly hôn( theo mẫu);

- Các giấy tờ chứng minh tài sản;

Tuy nhiên trường hợp tất cả giấy tờ bị mất thì bạn có thể tiến hành những việc làm sau để được ly hôn:

- Về hộ khẩu : Bạn có thể liên hệ với cơ quan công an cấp phường, xã nơi bạn thường trú nhờ xác nhận rằng bạn nhân khẩu thường trú tại địa phương. Việc xác nhận này bạn có thể làm đơn riêng, cũng có thể nhờ công an xác nhận ngay vào đơn xin ly hôn.

- Về Giấy đăng ký kết hôn bản chính : Bạn có thể liên hệ với cơ quan hộ tịch nơi bạn đăng ký trước đây để xin bản sao. Trường hợp này khi nộp bản sao ĐKKH cho Tòa án bạn phải trình bày rõ lý do là bị mất hết giấy tờ nên bạn không thể cung cấp cho Tòa.

- Về Giấy khai sinh của con : Pháp luật không yêu cầu nộp bản chính giấy khai sinh nên bạn sẽ nộp bản sao có chứng thực giấy khai sinh của con nên bạn có thể liên hệ với cơ quan hộ tịch trước đây nơi bạn đã đăng ký khai sinh cho con để xin cấp bản sao.

Sau đó bạn nộp tại TAND cấp huyện nơi vợ bạn cư trú, làm việc để được giải quyết.

Sau khi nhận đơn khởi kiện cùng hồ sơ, nếu xét thấy đủ thẩm quyền để giải quyết vụ việc ly hôn, Tòa án sẽ ra thông báo đến chị về nộp tiền tạm ứng án phí (ở đây không có tranh chấp tài sản thì mức nộp án phí là 300.000đ).

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, bạn lên nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án quận/huyện và nộp lại biên lai tiền tạm ứng án phí cho Tòa án. Sau đó, Tòa án thụ lý vụ án, tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung và ra Bản án hoặc quyết định giải quyết vụ án.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

5. Vợ chồng có quyền và nghĩa vụ gì sau khi ly hôn ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Nếu đang công tác trong ngành công an mà bỏ vợ có bị đuổi ra khỏi ngành ko ạ?
Mong nhận được câu trả lời từ pháp luật một cách chính xác nhất

Trả lời:

Căn cứ theo điều 42 Luật công an nhân dân 2014 về xử lý kỷ luật trong luật công an nhân dân quy định:

"Điều 42. Xử lý vi phạm

1. Sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ Công an nhân dân, công nhân công an vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại cho sức khoẻ, tính mạng của người khác, tài sản hoặc lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

2. Sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ Công an nhân dân không được sử dụng Công an hiệu, cấp hiệu, phù hiệu khi bị khởi tố, tạm giữ, tạm giam; nếu bị phạt tù thì đương nhiên bị tước Công an hiệu, cấp hiệu, phù hiệu khi bản án có hiệu lực pháp luật.

3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi chống đối, cản trở hoạt động của sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ Công an nhân dân trong thi hành công vụ thì tuỳ tính chất, mức độ vi phạm bị xử lý theo quy định của pháp luật."

Như vậy, việc bạn có bị đuổi khỏi ngành không tùy thuộc vào mức độ tính chất nghiêm trọng của vụ việc và quyết định xử lý của cơ quan bạn. Đây là những quy định nội bộ của ngành công an, để biết chính xác về hình thức kỷ luật đối với bạn thì bạn có thể liên hệ với cơ quan mình.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Cán bộ công an vi phạm sẽ bị đuổi ra khỏi ngành ?

Chào luật sư, Em muốn ly thân mà không biết làm sao. Cho em hỏi Thủ tục ly thân gồm những gì? Nộp đơn cho ai? Có cần phải ra tòa hay không? Rất mong được sự phản hồi của a/c. Xin cám ơn

=> Hiện nay, theo quy định của Luật hôn nhân gia đình mới cho quy định về vợ chồng được quyền ly hôn theo quy định tại điều 51 luật hôn nhân gia đình 2014. Còn vấn đề ly thân hiện nay chưa được luật hóa, chưa được quy định cụ thể tại bất cứ điều luật nào.

Do vậy, hiện nay, Tòa án không giải quyết các vấn đề liên quan đến ly thân vì ly thân là một trong những chế định chưa được luật thừa nhận, chỉ giải quyết các vấn đề liên quan đến ly hôn theo quy định của pháp luật.

Nếu như hai vợ chồng muốn ly thân sẽ tự thỏa thuận và tự quyết định mà không có bất kỳ một cơ chế nào giải quyết vấn đề này.

Chào luật sư, cho em hỏi vk em đi làm xa được 1 năm và từ đó không liên lạc về nhà tới nay là 4 năm và em có con chung với vợ em đc 4 tuổi cho tới gần đây em mới biết được vợ em chung sống với người đàn ông khác và có con với người đó được 8 tháng tuổi vậy luật sư cho em hỏi giờ em viết đơn kiện em có được buồi thường và người vợ này phải chịu trước pháp luật như thế nào ạ ?

Theo đó, căn cứ quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 về những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án gồm:

1. Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn.

2. Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

3. Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

4. Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ.

5. Tranh chấp về cấp dưỡng.

6. Tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.

7. Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc khi hủy kết hôn trái pháp luật.

8. Các tranh chấp khác về hôn nhân và gia đình, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.

Như vậy, bạn không thể khởi kiện vợ bạn ra tòa để giải quyết việc bồi thường. Nhưng theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, “người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ” là hành vi bị cấm. Trong trường hợp này, vợ bạn vẫn có hành vi chung sống như vợ chồng với người khác thì vợ bạn sẽ bị xử phạt hành chính. Nếu tiếp tục tái phạm, họ có thể bị công an khởi tố xử lý hình sự về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng.Tuy nhiên, nếu hành vi này chưa gây hậu quả nghiêm trọng hoặc người vi phạm chưa bị xử phạt hành chính về hành vi này thì chưa đủ căn cứ pháp lý để truy cứu trách nhiệm hình sự vợ bạn hay người đàn ông kia về tội phạm này.

Theo đó, Điều 182 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng như sau:

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó."

Nếu chưa đủ căn cứ để xử lý hình sự thì vợ bạn và người đàn ông kia có thể bị xử phạt hành chính theo điều 48 Nghị định 67/2015/NĐ-CP, cụ thể:

Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người thực hiện một trong các hành vi sau: đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác; chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ…

+ Nghĩa vụ chu cấp hàng tháng cho con.

Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội quy định:

"Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con”.

Theo thông tin bạn cung cấp con bạn chưa thành niên xét theo quy định tại điều trên thì nếu vợ bạn không sống chung với con bạn thì bạn có quyền yêu cầu vợ bạn có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con bạn trong trường hợp con bạn chưa thành hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Thưa luật sư, Tôi nguyên quán tại tp bắc giang năm 2014 tôi có đăng ký kết hôn với anh Nguyễn tuấn Dương tức chồng tôi . Nhưng ngay sau đó tôi nhận thấy chúng tôi có nhiều điểm bất đồng quan điểm nên không về chung sống với nhau , vậy luật sư cho tôi biết , tôi muốn ly hôn đơn phương và thủ tục như thế nào ? Và tôi muốn ly hôn ngay tại tòa án nơi tôi sinh sống được không hay phải vào tận trong Thanh hóa vì địa lý nên mong LS tư vấn ạ

Theo quy định tại Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 thì “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu tòa án giải quyết việc ly hôn”.

Và tại Khoản 1 điều 56 về Ly hôn theo yêu cầu của một bên thì : “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.

Như vậy, khi tình trạng cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn thì bạn có thể đơn phương gửi đơn yêu cầu tòa án giải quyết việc ly hôn của mình.

Hồ sơ xin ly hôn bao gồm:

- Đơn xin ly hôn (đơn phương);

- Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;

- Bản sao Hộ khẩu thường trú, tạm trú của vợ và chồng

- Bản sao Chứng minh thư nhân dân hoặc bản sao hộ chiếu của vợ và chồng

- Các giấy tờ chứng minh về tài sản: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở (nếu có)…

- Bản sao giấy khai sinh của con.

Thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Trường hợp vợ hoặc chồng đơn phương xin ly hôn, Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc tức nếu người vợ đơn phương xin ly hôn thì phải nộp đơn xin ly hôn tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi người chồng cư trú, làm việc. Nếu không biết được nơi cư trú, làm việc thì có thể yêu cầu Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc cuối cùng hoặc nơi có tài sản để giải quyết.

Cũng theo Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định trong trường hợp vợ chồng có tranh chấp tài sản liên quan đến bất động sản thì Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.

Thưa luật sư, hiện giờ em đăng quen mọt người mà người ta đã li dị chồng lâu rồi người ta đi làm thì bị gia đình bên chồng cũ tung tin đồn là người đó đi bán bia ôm rồi con tung tin đồn là người đó đi hết thằng này tới thằng khác để lấy tiền.bên đó thấy em quen thị lại nói xấu em này kia.và còn nói là tại quen người đó nên người đó mới không muốn quay lại với chồng cũ. Trong khi đó ở sớm đó ai cũng biết gia đình đó sống khó khăn rắt rối nên con dâu ở không được mới li dị.vậy nếu người tung tin đồn vậy thì có phạm tội gì không ?

Theo như thông tin bạn cung cấp thì gia đình nhà chồng cũ đã tung tin đồn gây ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của người bạn gái.

Điều 155, Điều 156 Bộ luật hình sự 2015 có quy định như sau:

" Điều 155. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người đang thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

b) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Điều 156. Tội vu khống

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với 02 người trở lên;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người đang thi hành công vụ;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

h) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Vì động cơ đê hèn;

b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

c) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Do gia đình nhà chồng cũ của bạn gái bạn đã bịa đặt, loan truyền những điều bịa đặt để xúc phạm danh dự của bạn gái bạn nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội làm nhục người khác mà chỉ cấu thành tội vu khống theo quy định tại Điều 156 Bộ luật hình sự. Bạn gái bạn có thể tố cáo người đã tung tin đồn lên cơ quan có thẩm quyền để yêu cầu xử lý và việc xác minh sự thật sẽ thuộc về cơ quan điều tra.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Hôn nhân - Công ty Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?