1. Cách giành quyền nuôi con khi ly hôn?

Thưa Luật sư, vợ chồng tôi sống ly thân 2 năm rồi và chồng tôi không có trách nhiệm gì với các con. Vợ chồng tôi có 4 con, 3 gái một trai.
Vậy tôi xin ly hôn một phía thì tòa án giải quyết như thế nào? Có cách nào để tôi giành quyền nuôi con không?
Cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật hôn nhân trực tuyến gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Ly hôn là kết quả không ai mong muốn bởi nhiều hệ lụy mà nó mang lại. Khi ly hôn, ngoài việc chia tài sản thì giành quyền nuôi con là một việc rất quan trong đối với người cha, người mẹ. Trường hợp bạn muốn ly hôn nhưng chồng bạn không đồng ý bạn có thể làm đơn xin ly hôn đơn phương.

Thứ nhất, Hồ sơ xin ly hôn đơn phương gồm có:

- Đơn xin ly hôn đơn phương;

- Sổ hộ khẩu, Chứng minh nhân dân photo có chứng thực của hai vợ chồng;

- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn bản chính;

- Giấy khai sinh của các con (bản sao có chứng thực);

Bạn nộp hồ sơ tại TAND nơi chồng bạn cư trú, làm việc. Thời gian giải quyết từ 4 đến 6 tháng.

Thứ hái, về giành quyền nuôi con.

Là bậc cha mẹ thì ai cũng muốn trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con cái, vì thế việc tranh chấp giành quyền nuôi con sau ly hôn là vấn đề thường xuyên xảy ra. Cho nên việc tìm hiểu và bổ sung thông tin về giành quyền nuôi con sau ly hôn là điều cần thiết đối với các cặp vợ chồng đang có tranh chấp.

Căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội có quy định:

"2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Trong trường hợp của bạn, bạn cần phải xem xét chính xác các con bạn hiện được bao nhiêu tháng tuổi. Nếu cháu chưa đủ 36 tháng, thì về mặt nguyên tắc, cháu sẽ do bạn trực tiếp nuôi dưỡng, trừ trường hợp bạn không có điều kiện trực tiếp để trông nom, chăm sóc con. Còn đối với trường hợp cháu đủ 3 tuổi. Do đó, nếu hai vợ chồng bạn thỏa thuận rằng bạn là người nuôi con thì bạn có thể được nuôi con. Trường hợp, hai vợ chồng bạn không thỏa thuận được về vấn đề nuôi con, Tòa án sẽ căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con để đưa ra phán quyết bên nào là bên được trực tiếp nuôi dưỡng con. Còn đối với trường hợp con chung của vợ chồng bạn từ đủ 7 tuổi trở lên, thì đối với người trực tiếp nuôi con sẽ được Tòa án xem xét dựa trên nguyện vọng của con.

Cách giành quyền nuôi con khi ly hôn:

Khi vợ, chồng bạn giành quyền nuôi con thì bạn cần phải giành được lợi thế.

– Chứng minh được đối phương trong thời gian chung sống không quan tâm con, bạo lực với con

Để được trực tiếp nuôi dưỡng con, người vợ/người chồng phải là người yêu thương và dành nhiều tình cảm cho con. Vì vậy, nếu bạn chứng minh được đối phương trong thời gian chung sống thường xuyên có những hành vi bạo lực với con về thể xác hoặc tinh thần, không quan tâm, lo lắng cho con, không hoàn thành tốt trách nhiệm của một người cha, người mẹ…thì bạn sẽ giành lợi thế khi Tòa án phán quyền nuôi con.

– Chứng minh bạn đủ điều kiện kinh tế để nuôi con

Đây là yếu tố quyết định thứ 2 để bạn có được quyền nuôi con. Vì thế, bạn phải chứng minh được thu nhập đảm bảo cho những nhu cầu tối thiểu của con.

– Chứng minh được đối phương có lỗi trong ly hôn

Như vợ/ chồng ngoại tình…. bạo lực gia đình… vi phạm hôn nhân

– Chứng minh được bạn có thời gian chăm sóc con

Người trực tiếp nuôi dưỡng con phải có thời gian dành cho con. Để trẻ phát triển toàn diện, trẻ cần phải được đáp ứng cả về yếu tố vật chất và tinh thần. Vì thế vợ hoặc chồng mà đi xa thì đó là bất lợi trong việc giành quyền nuôi con

– Các yếu tố khác…..

Như con muốn ở với bạn, tình cảm bạn dành cho con tốt hơn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Điều kiện, thủ tục đơn phương ly hôn và quyền nuôi con sau khi ly hôn?

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Tình trạng hôn nhân trầm trọng là gì ?

Năm 2005, chị NTK từ Hải Phòng vào TP.HCM làm việc rồi kết hôn với anh NTV. Đáng buồn là cuộc sống giữa chị và gia đình chồng sau khi cưới đã không thể hòa hợp. Cha mẹ chồng luôn có lời lẽ chê bai, xúc phạm chị ăn bám nhà họ dù chị vẫn có công việc ổn định.

Mỗi ngày, các trung tâm tư vấn pháp luật về hôn nhân và gia đình tiếp không ít người đến than khổ vì tòa không cho ly hôn.

Theo luật, muốn được giải quyết ly hôn thì tình trạng hôn nhân của họ phải trầm trọng. Tuy nhiên, thế nào là tình trạng hôn nhân trầm trọng thì ngay chính các thẩm phán cũng còn đang mơ hồ…

Muốn chia tay mà không được

Để tránh đụng chạm, nhiều lần chị K. đề nghị chồng ở riêng nhưng anh không đồng ý vì anh là con trai một. Anh lại rất được gia đình cưng chiều, có vợ rồi nhưng vẫn quen thói ỷ lại, không chịu giúp đỡ vợ bất cứ việc gì. Ngày yêu nhau, chị nghĩ sau khi cưới anh sẽ thay đổi nhưng giờ chị biết là không thể. Tệ hơn, khi anh thấy cảnh vợ và gia đình mình bất đồng, anh không chủ động cùng vợ tháo gỡ mà còn thường xuyên rong chơi, nhậu nhẹt, nhậu say về lại đánh đập chị. Gia đình chồng thấy thế cũng không hề can thiệp, có lần chị bị thương nặng, chỉ có hàng xóm đưa vào bệnh viện.

Kể trong tủi hờn, chị bảo chỉ vì thương con, yêu anh mà chị mới ráng chung sống đến giờ. Nay nhận thấy tình cảm dành cho chồng đã hết, chị không muốn tiếp tục sống những tháng ngày đen tối thêm nữa nên đã nhiều lần đề nghị chồng ký vào đơn xin ly hôn nhưng anh không chịu. Chị đơn phương nộp đơn ra TAND quận xin ly hôn. Tuy nhiên, tòa nhận định mâu thuẫn giữa vợ chồng chị không trầm trọng, không cần thiết phải ly hôn nên bác đơn chị. Từ ngày tòa bác đơn, chồng chị không hề bày tỏ ý chí sẽ cải thiện tình hình để hàn gắn hôn nhân, vẫn thường thượng cẳng tay hạ cẳng chân với chị. Chị sống trong chuỗi ngày lo âu, không dám bỏ đi vì xót con thơ vừa hơn hai tuổi, còn tiếp tục nộp đơn ly hôn thì e tòa lại bác…

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Tương tự, anh HVN chung sống với chị ĐTH như vợ chồng, có một con chung. Sau khi họ đi đăng ký kết hôn được nửa năm thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, chị H. bồng con về nhà mẹ ruột. Hai năm sau, anh N. nộp đơn xin ly hôn, song bị tòa bác vì cho rằng tình trạng hôn nhân giữa hai người không trầm trọng. Đợi thêm hai năm nữa, anh lại tiếp tục xin ly hôn nhưng chị H. phản đối. Xử sơ thẩm, TAND TP Cà Mau chấp nhận đơn xin ly hôn của anh do vợ chồng anh đã sống ly thân nhiều năm. Tòa tuyên để chị H. nuôi con, còn anh có nghĩa vụ cấp dưỡng. Sau đó chị H. kháng cáo. TAND tỉnh Cà Mau đã sửa án sơ thẩm, bác yêu cầu xin ly hôn của anh N. và buộc vợ chồng anh đoàn tụ. Bản án phúc thẩm này đã bị VKSND tỉnh Cà Mau kiến nghị cấp trên xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm bởi theo VKS, mâu thuẫn vợ chồng anh N. và chị H. đã thật sự trầm trọng, cấp phúc thẩm bác đơn là chưa thấu lý đạt tình.

Hướng dẫn còn chung chung

Trong các vụ án hôn nhân gia đình, tòa án thường vận dụng khoản 1 Điều 89 Luật Hôn nhân và Gia đình để ra phán quyết. Theo đó, nếu xét thấy tình trạng hôn nhân trầm trọng và mục đích hôn nhân không đạt được thì cho ly hôn, còn không thì bác.

Việc xét thế nào là tình trạng hôn nhân trầm trọng dựa vào hướng dẫn trong Nghị quyết số 02/2000 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao. Cụ thể, vợ chồng không còn yêu thương nhau, không thực hiện nghĩa vụ với nhau, được gia đình, cơ quan, tổ chức nhắc nhở, hòa giải nhiều lần. Ngoài ra, vợ chồng có hành vi ngược đãi, đánh đập nhau, xúc phạm uy tín, nhân phẩm, có biểu hiện ngoại tình… Những hành vi nói trên phải dẫn đến mục đích hôn nhân không đạt được, tức không có tình nghĩa vợ chồng, không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ chồng, không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ chồng, không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ chồng, không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt…

Nhiều thẩm phán cho biết khái niệm tình trạng trầm trọng trong hôn nhân rất trừu tượng. Theo họ, hướng dẫn của TAND Tối cao chỉ mang tính giải thích chung chung, khó thể vận dụng để giải quyết thấu đáo loại án này. Đa phần thẩm phán chỉ dựa vào trực quan là chủ yếu. Có người còn bảo nếu bác đơn ly hôn thì cứ dựa vào hướng dẫn của nghị quyết mà lập luận, còn cho ly hôn thì cứ nói đơn giản rằng mâu thuẫn giữa hai bên là trầm trọng. Bởi lẽ thực tế muốn chứng minh vợ chồng “không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau”… rất phức tạp, khó khăn, trong khi những người muốn ly hôn vẫn hay nại ra lý do là “không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống”.

Theo ý chí của đương sự?

Một thẩm phán Tòa Dân sự TAND TP.HCM nhìn nhận: “Tình trạng hôn nhân nghiêng về lĩnh vực tình cảm, không thể nào có sự định lượng rõ ràng. Giải quyết án ly hôn, thẩm phán đâu thể nào theo đương sự suốt 24 giờ, biết được tất tần tật các ngóc ngách đời sống của họ để đưa ra phán quyết chính xác. Để đánh giá trầm trọng hay không phải căn cứ vào nhiều yếu tố như hai bên có còn chung sống với nhau không, tình cảm dành cho nhau như thế nào, chuyện quan hệ sinh lý, có đánh đập, chửi bới hay không… Tuy nhiên, tất cả đều mang tính chủ quan. Đã có không ít đương sự gặp chúng tôi sau những phiên xử ly hôn để hỏi liệu chúng tôi có thể chịu trách nhiệm về việc không cho họ ly hôn hay không nếu xảy ra hệ lụy xấu về sau”.

Vì thế một số chuyên gia về pháp lý có quan điểm rằng kết hôn là tự nguyện tiến bộ thì ly hôn cũng vậy, phải tôn trọng ý chí chủ quan của đương sự dù có khi chỉ là một bên. Một khi đã quyết đưa nhau ra tòa thì đã không còn tình cảm với nhau, việc gì phải cố ép họ đoàn tụ, cố ép họ tiếp tục sống chung với lý do yêu cầu của họ chưa chính đáng.

Phán quyết sai, đương sự khổ

Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP có một số cụm từ gây tranh cãi. Chẳng hạn như “không thương yêu, quý trọng, chăm sóc”. Định lượng như thế nào để đủ kết luận rằng vợ chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc? Với tâm tính che giấu, thầm kín của người Việt Nam, sự biểu lộ yêu – ghét, trọng – khinh không dễ gì nhìn thấy và đo lường sâu – cạn. Tương tự, “ngược đãi, hành hạ (…), hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau”cũng mơ hồ không kém. Dùng hành động tác động vào thân thể người phối ngẫu thì coi là hành hạ, đánh đập nhưng nếu không hành động hay chỉ tác động bằng ngôn ngữ nói, viết thì đến mức nào thì được xem là ngược đãi, hành hạ?

Từ đó đã dẫn đến thực tế là việc đánh giá như thế nào là tình trạng trầm trọng của hôn nhân để đưa ra phán quyết tùy thuộc vào cảm nhận của thẩm phán thụ lý xét xử. Nếu phán quyết sai, đương sự muốn ly hôn phải mất đi cả một quãng đời trong cuộc hôn nhân cay đắng.

Luật sư NGUYN NGC PHÁT, Đoàn Luật sư TP.HCM

Hoàn thiện luật

Ở các nước theo hệ thống pháp luật Anh, Mỹ, việc ly hôn hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của các bên. Tòa án chỉ là nơi công nhận ý chí của các bên và làm công tác giải quyết các tranh chấp về tài sản và quyết định trách nhiệm của các bên đối với con cái còn ở độ tuổi vị thành niên.

Do nước ta không thừa nhận chế định án lệ nên rất khó xem xét điển hình cụ thể trong thực tế thế nào là đời sống hôn nhân trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được để các tòa án áp dụng một cách thống nhất. Chính từ những quy định pháp luật còn mang tính chung chung như trên mà phần lớn việc giải quyết các vụ án ly hôn còn phụ thuộc rất nhiều vào ý chí chủ quan của người làm công tác xét xử. Để giải quyết các vấn đề trên, pháp luật cần phải có những bước sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện hơn và công tác nâng cao trình độ, kiến thức chuyên môn cho người làm công tác xét xử cần phải được chú trọng hơn.

Luật sư NGUYN HU TH TRCH, Đoàn Luật sư TP.HCM

(MINH KHUE LAW FIRM: Biên tập.)

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Thủ tục phân chia tài sản chung trước khi ly hôn ?

Thưa luật sư, Tôi nhờ luật sư tư vấn cho em,trong trường hợp: Bố mẹ tôi giờ đã 54 tuổi, đang sinh sống ngoài Hà Nội. Bố Tôi đang đi làm nhà nước, mẹ thì đã về hưu. Giờ Bố Tôi về quê lấy vợ khác nhưng không chịu bỏ Mẹ Tôi. Mẹ Tôi giờ đồng ý ly hôn với điều kiện là: Toàn bộ tài sản ngoài này là thuộc hết về bà để sau này mẹ em có mất thì tài sản của sẽ về các con chung chứ không phải chia sẻ cho ai.
Bố Tôi đồng ý vậy phải làm những thủ tục và giấy tờ gì và như thế nào? Để sau này bố có muốn tha. Xin cảm ơn!
Người gửi: Bui Ngoc Diep

Một số mẫu văn bản áp dụng cho thủ tục ly hôn

1. Mẫu đơn xin ly hôn;

2. Mẫu đơn thuận tình ly hôn;

3. Mẫu đơn xin ly hôn đơn phương;

4. Mẫu giấy xác nhận mâu thuẫn vợ chồng;

Tư vấn thủ tục phân chia tài sản của hai vợ chồng trước khi ly hôn?

Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Trong trường hợp này, bố mẹ bạn nên tiến hành thủ tục phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Cụ thể pháp luật quy định về vấn đề này như sau:

“1.Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp luật công nhận.(Điều 29 Luật hôn nhân và gia đình 2000 )

Thủ tục phân chia tài sản chung được quy đinh tại Điều 6 Nghị định 70/2001/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành luật hôn nhân và gia đình như sau:

Thoả thuận chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật Hôn nhân và gia đình phải được lập thành văn bản và ghi rõ các nội dung sau đây:

a) Lý do chia tài sản;

b) Phần tài sản chia (bao gồm bất động sản, động sản, các quyền tài sản); trong đó cần mô tả rõ những tài sản được chia hoặc giá trị phần tài sản được chia;

c) Phần tài sản còn lại không chia, nếu có;

d) Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung;

đ) Các nội dung khác, nếu có.

2. Văn bản thoả thuận chia tài sản chung của vợ chồng phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập văn bản và phải có chữ ký của cả vợ và chồng; văn bản thoả thuận có thể có người làm chứng hoặc được công chứng, chứng thực theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

Trong văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, bố bạn có thể thỏa thuận toàn bộ tài sản chung thuộc về mẹ bạn. Nếu trong khối tài sản ở Hà Nội của bố bạn có tài sản riêng của bố bạn thì nên tiến hành thủ tục tặng cho tài sản đối với khối tài sản riêng này. Người được tặng cho trong hợp đồng tặng cho tài sản không nhất thiết phải là mẹ bạn mà có thể là bạn hoặc các thành viên khác trong gia đình.

Ý kiến bổ sung:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho chúng tôi!

Về câu hỏi của bạn, chúng tôi xin trả lời như sau:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 về nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn:

Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết..”

Như vậy luật pháp khuyến khích các cặp vợ chồng tự thỏa thuận phân chia tài sản khi ly hôn. Việc tự thỏa thuận phân chia tài sản giúp cho vợ, chồng có nhiều tiện lợi, như sau:

+Không tốn án phí, chi phí định giá, lệ phí thi hành án...

+Không mất nhiều thời gian, công sức để "hầu tòa".

+Vụ việc ly hôn sẽ đơn giản, thời gian giải quyết có thể sớm hơn.

Ngoài ra, việc tự phân chia tài sản bằng hình thức thỏa thuận cho tặng tài sản là nhà đất, xe cộ..., cho nhau trước khi ly hôn sẽ giúp cho vợ, chồng không phải đóng thuế chuyển quyền sử dụng đất, lệ phí trước bạ theo quy định.

Trong trường hợp của bạn, bố mẹ bạn đều thuận tình ly hôn và cả hai bên đã tự thoả thuận được với nhau về việc phân chia tài sản.

Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 90 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định thì Toà án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn mà không phải mở phiên toà khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:

- Hai bên thật sự tự nguyện ly hôn;

- Hai bên đã thỏa thuận được với nhau về việc chia hoặc không chia tài sản, việc trông nom, nuôi dường, chăm sóc và giáo dục con;

- Sự thỏa thuận về tài sản và con trong từng trường hợp vụ thể này phải dựa trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con;

Trường hợp của bạn, bố mẹ bạn chỉ mới thỏa thuận được về vấn đề phân chia tài sản còn về vấn đề ai sẽ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cọn cái thì chưa thấy đề cập tới. Như vậy, bố mẹ bạn cần phải thỏa thuận cụ thể về vấn đề này trên cơ cở đảm bảo quyền lợi chính đáng của mẹ bạn và các anh chị em bạn.

Trong trường hợp bố mẹ bạn đã thỏa thuận được cả về tài sản lẫn con cái thì theo quy định của pháp luật, khi giải quyết ly hôn đồng thuận, tòa án vẫn phải tiến hành hòa giải đoàn tụ. Nếu hòa giải đoàn tụ không thành, tòa án lập biên bản về việc đồng thuận ly hôn và hòa giải không thành. Và trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày lập biên bản, nếu bố bạn hoặc mẹ bạn hoặc cả hai vợ chồng không thay đổi ý kiến và Viện kiểm sát không phản đối thì Tòa án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn mà không phải mở phiên tòa.

Về thủ tục, bố mẹ bạn phải chuẩn bị một bộ hồ sơ thuận tình ly hôn, gồm những giấy tờ sau:

- Đơn yêu cầu thuận tình ly hôn (theo mẫu của từng Tòa );

- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

- Sổ hộ khẩu, CMTND (bản sao có chứng thực);

- Giấy khai sinh của con (bản sao có chứng thực );

- Các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh tài sản chung như: GCNQSDĐ (sổ đỏ); Đăng ký xe; sổ tiết kiệm… (bản sao);

Hồ sơ có thể nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua đường Bưu điện.

Về thời hạn giải quyết:

+ Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, Tòa án phải thụ lý vụ án, thông báo để bố mẹ bạn nộp tiền tạm ứng án phí. Sau khi nộp án phí, người khởi kiện nộp cho tòa biên lai nộp tiền tạm ứng án phí để Tòa thụ lý vụ án.

+ Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, nếu Tòa án hòa giải không thành, xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thoả thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Toà án công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận về tài sản và con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con; nếu không thoả thuận được hoặc tuy có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Toà án quyết định.

+ Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hòa giải không thành, nếu hai bên đương sự không thay đổi nội dung yêu cầu Công nhận thuận tình ly hôn thì Tòa án ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn.

Trong hồ sơ có Đơn yêu cầu thuận tình ly hôn và trong đơn này đã có mục về sự thỏa thuận của các bên về phân chia tài sản và con chung cũng như về vấn đề vay nợ (nếu có). Cho nên đây là căn cứ, chứng cứ về việc bố bạn đã đồng ý trao toàn bộ tài sản ngoài Hà Nội cho mẹ bạn. Nên bố bạn dù sau này có muốn thay đổi quyết định cũng không thể thay đổi được.

Mong bạn sớm giải quyết được vấn đề của mình! Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tư vấn quyền nuôi con khi ly hôn theo quy định mới năm 2020 ?

4. Nghĩa vụ trả nợ của vợ chồng khi ly hôn?

Kính chào luật sư, luật sư cho em hỏi: Em nộp đơn ly hôn tòa đã thụ án rồi, đang chờ ngày ra hòa giải. Trong đơn ly hôn em ghi là không có nợ chung vì 2 bên thỏa thuận miệng. Nhưng giờ em sợ sau khi ly hôn xong thì bên kia sẽ không trả nợ. Vậy em có thể nói với tòa để xử lý việc này không?
Kính mong luật sư tư vấn giúp em. Chân thành cảm ơn luật sư.

Nghĩa vụ trả nợ của vợ chồng khi ly hôn?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

"Điều 27. Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng

1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này.

2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này."

Căn cứ vào quy định pháp luật trên thì chồng bạn phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ cùng bạn nếu khoản vay nợ là nợ chung của hai vợ chồng hoặc khoản nợ là nợ bạn vay nhưng đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.

Điều 471 Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 quy định:

"Điều 471. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định."

Căn cứ theo quy định trên và dữ liệu bạn đưa ra thì hai bên thỏa thuận miệng về việc vay tài sản là không trái với quy định của pháp luật.

Ngoài ra, theo quy định tại khoản 3 Điều 79 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011 thì khi yêu cầu Tòa án giải quyết hay khi khởi kiện bạn phải có chứng cứ chứng minh khoản nợ này là của hai bạn:

"Điều 79. Nghĩa vụ chứng minh...

3. Cá nhân, cơ quan tổ chức khởi kiện bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện, yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp..."

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Đối với trường hợp hợp này, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Nghĩa vụ trả nợ chung sau khi ly hôn ?

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

5. Thủ tục ly hôn và quyền lợi của người vợ ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Hiện tôi đang ở chung với bố mẹ chồng và có một em bé 11 tháng tuổi. Tôi muốn hỏi thủ tục ly hôn sẽ phải cần những thủ tục gì? Quyền lợi của tôi khi ly hôn sẽ được hưởng những gì? Người chồng của tôi từ trước đến giờ chưa chu cấp đồng tiền nào cho vợ và con, thế khi ra tòa tôi sẽ được đòi hỏi những quyền gì?
Trân trọng cảm ơn.
Người gửi: P.L

Thủ tục ly hôn và quyền lợi của người vợ ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình gọi số: 1900.6162

Luật sư phân tích:

Trước hết, căn cứ theo quy định của luật HNGĐ thì khi người vợ nuôi con dưới 12 tháng tuổi, người chồng sẽ không có quyền yêu cầu xin ly hôn. Như vậy vợ chồng bạn có thể làm thủ tục ly hôn thuận tình hoặc chị làm thủ tục ly hôn đơn phương như sau:

Hồ sơ xin ly hôn gồm có các giấy tờ sau đây:

- Đơn yêu cầu thuận tình ly hôn hoặc đơn xin ly hôn (theo mẫu của từng Tòa);

- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

- Sổ hộ khẩu, CMTND (bản sao có chứng thực);

- Giấy khai sinh của con (bản sao - có chứng thực);

- Các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh tài sản chung như: GCNQSDĐ (sổ đỏ); Đăng ký xe; sổ tiết kiệm…;

Quyền lợi được hưởng sau khi ly hôn:

Sau khi ly hôn, chị sẽ được hưởng toàn bộ tài sản riêng có trước và trong thời kỳ hôn nhân, được hưởng 1 phần tài sản chung của vợ chồng dựa trên các nguyên tắc quy định tại khoản 2 điều 59 của luật HNGĐ. (Chị có thể tham khảo quy định về tài sản chung, tài sản riêng tại điều 33 và 43 của luật HNGĐ).

Ngoài ra, dọ chị chung sống với gia đình chồng nên căn cứ theo điều 61 của luật HNGĐ, chị có thể được hưởng 1 phần từ tài sản chung của gia đình nếu chị chứng minh được mình có công sức đóng góp vào khối tài sản chung ấy.

Về quyền sử dụng đất thì sẽ tuân theo quy định tại điều 62 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Khi ra Tòa được hưởng quyền gì khi chồng không chu cấp:

Việc chồng chị không chu cấp tiền cho vợ con trong thời kỳ hôn nhân sẽ được Tòa án xem xét để chia phần tài sản chung của vợ chồng chứ không được tách riêng ra và xem như 1 yếu tố để chị đòi bồi thường. Khoản 2 điều 59 luật HNGĐ quy định:

"2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng."

Như vậy, khi chia tài sản chung, chị có thể đưa ra dẫn chứng chứng minh anh chồng mình không chu cấp tiền cho vợ con để Tòa xem xét.

Ngoài ra thì căn cứ vào khoản 3 điều 81 của luật HNGĐ, trong trường hợp con dưới 36 tháng tuổi, nếu vợ có điều kiện và 2 vợ chồng không có thỏa thuận khác, con đương nhiên sẽ do mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Người không trực tiếp nuôi dưỡng sẽ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Như vậy, nếu chị là người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì chồng chị phải có nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng cho con chị (theo quy định tại điều 82 của luật HNGĐ).

Trân trọng!

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT HÔN NHÂN - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?