1. Thủ tục sáp nhập doanh nghiệp thực hiện như thế nào ?

Luật Minh Khuê, tư vấn và hỗ trợ khách hàng về các vấn đề pháp lý xung quanh việc sáp nhập doanh nghiệp theo quy định của luật doanh nghiệp 2014 như sau:

Trả lời:

Thứ nhất bản chất của việc sáp nhập doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp 2020 về đăng ký doanh nghiệp.:

Điều 201. Sáp nhập công ty

Theo đó việc sáp nhập doanh nghiệp có thể được hình dung như sau: Công ty A + Công ty B = Công ty A. Trong đó công ty A được gọi là công ty nhận sáp nhập và công ty B được gọi là công ty bị sáp nhập, sau khi tiến hành thủ tục sáp nhập thì công ty B chấm dứt sự tồn tại, toàn bộ tiền tài sản, quyền và nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp của công ty B đều được chuyển giao cho công ty A.

Thứ hai, một số lưu ý khi tiến hành sáp nhập doanh nghiệp:

3. Các công ty thực hiện việc sáp nhập phải bảo đảm tuân thủ quy định của Luật Cạnh tranh về sáp nhập công ty.

4. Cơ quan đăng ký kinh doanh tiến hành cập nhật tình trạng pháp lý của công ty bị sáp nhập trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và thực hiện thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp cho công ty nhận sáp nhập. Trường hợp công ty bị sáp nhập có địa chỉ trụ sở chính ngoài tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi công ty nhận sáp nhập đặt trụ sở chính thì Cơ quan đăng ký kinh doanh nơi công ty nhận sáp nhập đặt trụ sở chính thông báo việc đăng ký doanh nghiệp cho Cơ quan đăng ký kinh doanh nơi công ty bị sáp nhập đặt trụ sở chính để cập nhật tình trạng pháp lý của công ty bị sáp nhập trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

Luật cạnh tranh 2004 có quy định như sau:

" Điều 16. Tập trung kinh tế

Tập trung kinh tế là hành vi của doanh nghiệp bao gồm:

1. Sáp nhập doanh nghiệp;

2. Hợp nhất doanh nghiệp;

3. Mua lại doanh nghiệp;

4. Liên doanh giữa các doanh nghiệp;

5. Các hành vi tập trung kinh tế khác theo quy định của pháp luật.

Điều 18. Trường hợp tập trung kinh tế bị cấm

Cấm tập trung kinh tế nếu thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên quan, trừ trường hợp quy định tại Điều 19 của Luật này hoặc trường hợp doanh nghiệp sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật.

Điều 19. Trường hợp miễn trừ đối với tập trung kinh tế bị cấm

Tập trung kinh tế bị cấm quy định tại Điều 18 của Luật này có thể được xem xét miễn trừ trong các trường hợp sau đây:

1. Một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang trong nguy cơ bị giải thể hoặc lâm vào tình trạng phá sản;

2. Việc tập trung kinh tế có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ."

Theo đó nếu thị phần của doanh nghiệp nhận sáp nhập mà từ 30- 50% thì mình phải làm thủ tục thông báo với cục quản lý cạnh tranh, trường hợp mà doanh nghiệp nhận sáp nhập chiếm thị phần trên thị trường liên quan từ 50% thì không được tiến hành sáp nhập trừ hai trường hợp được quy định tại điều 19 luật cạnh tranh như trên.

Thứ ba về thủ tục sáp nhập

Trước hết hai bên phải tiến hành thành lập hợp đồng sáp nhập, điều lệ của công ty nhận sáp nhập. Trong đó hợp đồng sáp nhập phải được gửi đến tất cả các chủ nợ của công ty và người lao động.

Sau khi có hợp đồng sáp nhập rồi thì các công ty bị sáp nhập phải nộp hồ sơ xin xác nhận đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và xin đóng mã số thuế lên cơ quan thuế quản lý, cơ quan bảo hiểm xã hội (nếu có), tổng cục hải quan (nếu có)…

Sau đó sẽ tiến hành thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh công ty nhận sáp nhập tại sở kế hoạch và đầu tư:

- Hồ sơ gồm: + Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh

+ Điều lệ công ty nhận sáp nhập

+ Biên bản quyết định của chủ sở hữu /Hội đồng thành viên/Đại hội đồng cổ đông của Công ty bị sáp nhập về việc sáp nhập công ty, thông qua hợp đồng sáp nhập và Điều lệ công ty nhận sáp nhập; bầu hoặc bổ nhiệm Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch Công ty, Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty nhận sáp nhập (nếu có)

+ Biên bản họp và Quyết định của chủ sở hữu/Hội đồng thành viên/Đại hội đồng cổ đông của Công ty nhận sáp nhập về việc nhận sáp nhập công ty, thông qua Hợp đồng sáp nhập và Điều lệ công ty nhận sáp nhập; bầu hoặc bổ nhiệm Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch Công ty, Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty nhận sáp nhập (nếu có)

+ Hợp đồng sáp nhập

+ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của công ty bị sáp nhập và công ty nhận sáp nhập

- Sau đó tiến hành nộp hồ sơ tại sở kế hoạch và đầu tư.

Thưa luật sư Công ty chúng tôi là công ty TNHH Một Thành Viên có vốn 100% nước ngoài chuyên về may mặc. Chúng tôi muốn nhờ luật sư tư vấn về tình hình công ty chúng tôi muốn sát nhập vào công ty cũng cùng loại hình hoạt động giống công ty chúng tôi.Tuy là hai công ty riêng biệt nhưng hai công ty này lại có cùng một chủ đầu tư. Nay chúng tôi muốn chung hai công ty chúng tôi thành một. Chúng tôi đang băn khoăn vấn đề nên sát nhập, hợp nhất hay công ty kia làm thủ tục ngưng hoạt động hay phá sản. Các thủ tục giấy tờ như thế nào xin luật sư tư vấn giúp chúng tôi. Trân trọng cảm ơn!

=> Trường hợp của bạn thì bạn có thể thực hiện theo hình thức sáp nhập hoặc hoặc hợp nhất đều, nếu là sáp nhập thì chỉ chấm dứt tồn tại của một công ty còn nếu theo hình thức hợp nhất thì cả hai công ty đều chấm dứt hoạt đồng tất cả quyền và nghĩa vụ đều được chuyển giao cho công ty mới. Còn đối với hình thức giải thể thì bạn chỉ thực hiện được khi mà công ty mình không còn bất cứ một khoản nào chưa thanh toán.

Do đó bạn có thể thực hiện thủ tục sáp nhập theo hướng dẫn của bên mình ở trên. Bạn lưu ý về một số vấn đề liên quan đến pháp luật cạnh tranh.

Thưa luật sư, cho em hỏi :" công ty A là cty nhượng quyền thương mai của công ty B, hiện tại công ty A có ý định dừng hoạt động nhưng công ty B muốn công ty A đưa vốn toàn bộ vốn vào công ty B để tiếp tục hoạt động với điều kiện người đứng đầu của công ty A sẽ trực tiếp đứng tên là 1 cổ đông của công ty B " vậy đây có phải một hoạt động sát nhập, mua bán hay một hình thức nào khác ??? xin cảm ơn

=> Nhượng quyền thương mại được quy định trong luật thương mại 2005 như sau:

" Điều 284. Nhượng quyền thương mại

Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây:

1. Việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền;

2. Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh."

Theo như thông tin bạn cung cấp thì có thể hiểu công ty A là công ty nhận nhượng quyền thương mại. Hiện tại nếu muốn chuyển toàn bộ vốn tài sản và quyền nghĩa vụ của công ty A sang cho công ty B và chấm dứt hoạt động của công ty A thì trường hợp này mình có thể thực hiện dưới hình thức sáp nhập doanh nghiệp, công ty A sẽ là công ty bị sáp nhập còn công ty B là công ty nhận sáp nhập.

Dear Minh Khue, Cty mình được thành lập từ năm 1999, đến năm 2009 thành lập mới thêm 1 công ty cổ phần và chuyển toàn bộ hoạt động sang công ty cổ phần (đính kèm giấy ĐKKD của 2 công ty). Đến nay, xét thấy việc duy trì hoạt động của công ty cũ là không còn cần thiết, do vậy bên mình muốn tiến hành thủ tục sáp nhập công ty TNHH vào công ty cổ phần. Nhờ bạn tư vấn giúp: 1/ Sau khi sáp nhập thì pháp nhân của công ty TNHH sẽ không còn tồn tại nữa hay vẫn tồn tại dưới dạng công ty con của cty CP ? 2/ Các hồ sơ cần chuẩn bị. 3/ Mức phí và thời gian tiến hành thủ tục nói trên. 4/ Phần thuế thì làm thế nào, thuế làm khi đã xong giấy phép hay làm sau khi có GP, vui lòng hướng dẫn phần này và báo phí trọn gói. 5/ Còn các chi nhánh của cty thì xử lý thế nào ? Mình đang cần làm gấp. Mong sớm nhận được thông tin tư vấn của bạn. Trân trọng,

=> Trường hợp sau khi thực hiện việc sáp nhập thì toàn bộ quyền, nghĩa vụ và lợi ích của công ty TNHH sẽ được chuyển giao cho công ty cổ phần. Công ty TNHH sẽ chấm dứt hoạt động, công ty không còn tồn tại nữa kể từ khi thực hiện sau thủ tục sáp nhập. Thủ tục bạn thực hiện theo hướng dẫn ở trên. Trường hợp bạn muốn sử dụng dịch vụ của công ty mình thì bạn có thể liên hệ với bên mình qua tổng đài: 1900.6162 để được trao đổi trực tiếp.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật doanh nghiệp trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòngl để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tư vấn về thủ tục và chi phí sáp nhập Công ty ? Cần làm gì để mua lại thành công một công ty ?

2. Pháp luật có cho hoạt động sáp nhập ngân hàng ?

Mục tiêu các hoạt động sáp nhập, hợp nhất và mua bán lại (M&A) trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng có thể là để tối đa hóa lợi nhuận, đa dạng hóa và giảm rủi ro cho chủ sở hữu, hoặc gia tăng các lợi ích cho các nhà quản trị, cũng như có thể xuất phát từ mục tiêu của chính phủ nhằm tái cơ cấu lại hệ thống trong các cuộc khủng hoảng.

>> Luật sư tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp trực tuyến gọi số: 1900.6162

Thực tế hoạt động của các tổ chức tín dụng (TCTD) ngân hàng và phi ngân hàng tại Việt Nam cho thấy, hoạt động M&A đã từng được thực hiện vào những năm đầu của thập niên 90 của thế kỷ XX sau cuộc đổ bể của các hợp tác xã tín dụng (HTXTD).

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO và các thỏa thuận thương mại song phương và đa phương khác thì trong hoạt động M&A có liên quan đến các TCTD cần phải được thực hiện trong một khuôn khổ pháp lý đầy đủ, hoàn thiện và có cơ sở khoa học.

1- THỰC TRẠNG M&A HIỆN NAY TRÊN THẾ GIỚI

Sau bốn năm liên tục gia tăng, FDI toàn cầu đã tăng khoảng 30% trong năm 2007 đạt mức 1.833 tỉ USD. Mặc dù có các cuộc khủng hoảng tài chính và tín dụng bắt đầu vào nửa đầu 2007 nhưng cả ba nhóm nước chính – các nước phát triển, các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi tại Đông Âu và CIS vẫn tiếp tục gia tăng dòng vốn vào. Tuy nhiên, vốn FDI vào các nước phát triển vẫn đạt 1.248 tỉ USD mà chủ yếu là Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Canada và Hà Lan với nguồn vốn chủ yếu đến từ EU (chiếm khoảng 2/3).

Dòng vốn FDI toàn cầu gia tăng mạnh đã có sự đóng góp đáng kể của hoạt động M&A xuyên biên giới. Trong năm 2007, giá trị của các giao dịch M&A đạt 1.637 tỉ USD – cao hơn 21% so với mức kỷ lục trước đó vào năm 2000 (Biểu đồ 1).

Nhìn chung, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu với khủng hoảng nhà đất dưới chuẩn tại Hoa Kỳ đã không có tác động xấu rõ rệt đến hoạt động M&A trên toàn cầu trong năm 2007. Cuối năm 2007, đã có những vụ M&A lớn với giá trị hàng tỉ USD xảy ra bao gồm vụ tập đoàn Royal Bank for Scotland, Fortis và Santander mua lại ABN-AMRO Holding NV với giá 98 tỉ USD đã làm cho hoạt động M&A xuyên quốc gia đạt mức kỷ lục (Bảng 1) với số lượng các vụ M&A vào năm 2007 đạt 10.145 trường hợp (chỉ tính những giao dịch có giá trị trên 10% vốn cổ phần). Tuy nhiên, các cuộc khủng hoảng hiện tại đã dẫn đến cuộc khủng hoảng thanh khoản trên các thị trường tiền tệ và thị trường nợ tại nhiều quốc gia phát triển đã làm cho các hoạt động M&A bắt đầu suy giảm trong năm 2008, đặc biệt là các giao dịch LBO (Leverage Buyout) – thường liên quan đến các quỹ đầu tư tư nhân (Private Equity Fund).

Trong giai đoạn 2005 – 2007, hoạt động M&A xuyên biên giới chủ yếu diễn ra tại các nước phát triển nhưng nhìn chung, chủ yếu vẫn xảy ra tại các ngành dịch vụ và sản xuất với sự giảm sút của khối ngành cơ bản từ 17% vào năm 2005 còn 7% vào năm 2007 (Bảng 2) .

2- HOẠT ĐỘNG SÁP NHẬP, HỢP NHẤT VÀ MUA LẠI TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG

Hiện nay, việc hợp nhất, sáp nhập, mua lại các ngân hàng là hiện tượng phổ biến ở các nước mà điển hình nhất là hệ thống ngân hàng Mỹ. Năm 1985, nước Mỹ có 14.000 ngân hàng thì 10 năm sau chỉ còn 11.500 ngân hàng và trung bình trong thập niên 80 mỗi năm có 355 vụ M&A và thập niên 90 là gần 400 nhưng lý do dẫn đến việc sáp nhập, hợp nhất và mua lại có sự khác nhau nhất định của từng quốc gia.

Sau cuộc khủng hoảng tín dụng nhà đất tại Hoa Kỳ nổ ra vào giữa năm 2007, hoạt động M&A trong lĩnh vực ngân hàng trên thế giới xảy ra với tốc độ nhanh chưa từng thấy. Tại Hoa Kỳ, từ đầu năm 2009 đến đến 6/6/2009, đã có 37 ngân hàng buộc phải đóng cửa và phải bán tài sản của mình so với 25 ngân hàng bị đóng cửa trong năm 2008. Tính đến hết quý 1/2009, FDIC đã đưa trên 300 ngân hàng Hoa Kỳ vào diện “có vấn đề” so với 252 ngân hàng vào quý 4/2008 – cao hơn 21% so với cùng kỳ năm 2008 và cao nhất trong 15 năm. Trong năm 2009, vụ sụp đổ lớn nhất là ngân hàng Bank United vào ngày 21/5 được giải quyết theo hình thức bán cho các nhà đầu tư tư nhân và vẫn hoạt động với tên gọi cũ.

2.1. Hoạt động M&A trong lĩnh vực ngân hàng ở các nước phát triển

Các ngân hàng ở những quốc gia này đã phát triển đến mức bão hòa với qui luật lợi nhuận giảm dần nên doanh thu, lợi nhuận cũng giảm do đó chúng đã sáp nhập, hợp nhất và mua lại lẫn nhau nhằm cắt giảm chi phí, mở rộng mạng lưới hoạt động, bổ sung, đa dạng hoá sản phẩm, tăng cường qui mô kinh doanh cũng như lợi thế cạnh tranh đáp ứng với xu thế phát triển của nền kinh tế khu vực hoá và quốc tế hoá.

Ví dụ, tại Mỹ thời gian qua đã có nhiều cuộc sáp nhập do những lý do như: (1) Các ngân hàng Mỹ đã cho vay các nước đang phát triển quá nhiều nên nguy cơ thiếu vốn gia tăng; (2) Sự khác biệt về luật pháp làm cho nguồn dự trữ của hệ thống dự trữ liên bang không lớn; (3) Mạng lưới chi nhánh của các ngân hàng Mỹ không lớn do các hạn chế về mở chi nhánh ở các bang khác nhau. Tuy nhiên, nhìn chung, tùy thuộc vào qui mô của các ngân hàng mà lý do sáp nhập cũng khác nhau.

Đối với các ngân hàng lớn

Lý do quan trọng nhất là cắt giảm chi phí hoạt động và gia tăng qui mô kinh doanh nhờ việc sáp nhập, hợp nhất sẽ tăng vốn huy động, tăng vốn điều lệ và giới hạn cho vay từng khách hàng đơn lẻ. Ngoài ra cũng có thể để đa dạng hoá sản phẩm và dịch vụ kinh doanh, tăng uy tín của ngân hàng hoặc tiết kiệm chi phí thành lập chi nhánh.

Đối với các ngân hàng nhỏ

Các ngân hàng nhỏ sáp nhập, hợp nhất hoặc bán lại cho những ngân hàng lớn vì thiếu vốn điều lệ theo luật hoặc tránh phá sản hoặc để tối đa hoá lợi ích của các cổ đông. Ngoài ra, các ngân hàng nhỏ cũng có thể tiến hành sáp nhập, hợp nhất để thành một ngân hàng lớn hơn.

2.2. Hoạt động M&A trong lĩnh vực ngân hàng ở các nước đang phát triển

Tại các quốc gia đang phát triển hoặc chuyển đổi, hệ thống ngân hàng hầu như còn rất non trẻ, nên qui mô không lớn, kinh nghiệm kinh doanh chưa nhiều, sản phẩm còn nghèo nàn, luật lệ kinh doanh chưa rõ ràng, đầy đủ nên lý do dẫn đến việc sáp nhập, hợp nhất các ngân hàng ở các nước chủ yếu là do chính phủ muốn sắp xếp, củng cố hệ thống ngân hàng nhằm tăng cường qui mô vốn, an toàn trong kinh doanh ngân hàng như các nước Nga, Bungari, các nước Đông Nam Á sau khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997.

Việt Nam cũng đang tiến hành đồng thời hai cuộc cải cách nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển đó là cải cách các doanh nghiệp nhà nước và cải cách hệ thống ngân hàng với nhiều biện pháp khác nhau. Theo đó, một trong những biện pháp quan trọng là thực hiện việc M&A đối với các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) nhằm hình thành những ngân hàng lớn, đủ sức cạnh tranh trong tương lai khi Việt Nam gia nhập AFTA và WTO, đồng thời tránh sự lập lại của cuộc đổ bể tín dụng vào những năm 1989-1990 (Bảng 3).

3- KHUÔN KHỔ PHÁP LÝ CHO M&A TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM

3.1. Các qui định chung về M&A

Tại Việt Nam, qui định của Nhà nước liên quan đến hoạt động M&A được đề cập đến trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Bộ Luật Dân sự; Luật Cạnh tranh 2004; Luật Doanh nghiệp 2020; Luật Chứng khoán 2006; Luật Đầu tư 2005.

Do chịu sự điều tiết của nhiều văn bản pháp luật khác nhau nên hoạt động M&A vẫn tồn tại những cách hiểu khác nhau:

- Luật Cạnh tranh 2004, hoạt động M&A được xem là hành vi tập trung kinh tế thuộc nhóm các hành vi hạn chế cạnh tranh;

- Luật Doanh nghiệp 2020, hoạt động M&A được xem là hành vi “tổ chức lại doanh nghiệp”;

- Luật Đầu tư 2006 lại xuất phát từ việc phân loại đầu tư trực tiếp (nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư) và đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư.

Tuy nhiên, việc M&A có lúc được xem là hoạt động đầu tư trực tiếp (Điều 21) nhưng có khi lại được xem là hoạt động đầu tư gián tiếp (Điều 26). Việc đầu tư ra nước ngoài dưới hình thức đầu tư gián tiếp phải tuân thủ các qui định pháp luật về ngân hàng, chứng khoán và các qui định khác của pháp luật có liên quan (Điều 76).

Để kiểm soát quá trình M&A nhằm đảm bảo hoạt động này không dẫn đến tình trạng hình thành các doanh nghiệp, tập đoàn đủ lớn có khả năng khống chế thị trường dẫn đến thiệt hại cho người tiêu dùng, các doanh nghiệp khác cũng như Nhà nước, Luật Cạnh tranh 2004 chỉ kiểm soát hoạt động M&A dựa trên cơ sở xem xét qui mô kiểm soát thị trường của doanh nghiệp sau khi thực hiện hoạt động M&A. Cụ thể như sau:

- Đối với các trường hợp trong đó, thị phần kết hợp trên thị trường liên quan của các doanh nghiệp tham gia dưới 30% hoặc trường hợp doanh nghiệp hình thành sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật thì các doanh nghiệp được tiến hành tập trung kinh tế mà không cần phải thực hiện thủ tục thông báo bắt buộc cho Cục Quản lý cạnh tranh (có vốn đăng ký dưới 10 tỉ đồng và dưới 300 lao động – Nghị định số 90/2001/NĐ-CP).- Đối với các trường hợp trong đó, thị phần kết hợp trên thị trường liên quan của các doanh nghiệp tham gia từ 30% đến 50% thì các doanh nghiệp được tiến hành tập trung kinh tê, tuy nhiên, đại diện hợp pháp của các doanh nghiệp đó phải thực hiện thủ tục thông báo cho Cục Quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành tập trung kinh tế theo hồ sơ thông báo tập trung kinh tế do Cục Quản lý cạnh tranh ban hành.

- Đối với các trường hợp trong đó, thị phần kết hợp trên thị trường liên quan của các doanh nghiệp tham gia chiếm trên 50% trên thị trường liên quan và doanh nghiệp hình thành sau hoạt động tập trung kinh tế không thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật (Điều 18, Luật Cạnh tranh) thì không được chấp thuận.

Tuy nhiên, các vụ M&A thuộc diện bị cấm cũng có thể được xem xét và miễn trừ trong hai trường hợp: (i) Một hoặc nhiều bên tham gia hoạt động M&A đang trong nguy cơ bị giải thể hoặc lâm vào tình trạng phá sản; hoặc (ii) Việc M&A có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh tế – xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ (Điều 19, Luật Cạnh tranh).

Áp dụng các qui định của Luật cạnh tranh trong việc xác định thị phần đối với các TCTD nếu muốn tham gia vào hoạt động M&A sẽ được tính toán (Điều 12 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh) như sau :

Doanh thu để xác định thị phần của TCTD được tính bằng tổng các khoản thu nhập sau đây: (1) Thu nhập tiền lãi. (2) Thu nhập phí từ hoạt động dịch vụ. (3) Thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại hối. (4) Thu nhập từ lãi góp vốn, mua cổ phần. (5) Thu nhập từ hoạt động kinh doanh khác. (6) Thu nhập khác.

Trường hợp ngoại lệ, nếu TCTD mua lại doanh nghiệp khác nhằm mục đích bán lại trong thời gian dài nhất là 01 năm sẽ không bị coi là tập trung kinh tế nếu doanh nghiệp mua lại không thực hiện quyền kiểm soát hoặc chi phối doanh nghiệp bị mua lại hoặc thực hiện quyền này chỉ trong khuôn khổ bắt buộc để đạt được mục đích bán lại đó (Điều 35 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP).

3.2. Qui định đặc thù cho hoạt động M&A trong lĩnh vực ngân hàng

Đối với hoạt động M&A giữa các TCTD Việt Nam

Theo Điều 3 và 19 Quyết định 241/1998/NHNN5 do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ký ban hành Qui chế sáp nhập, hợp nhất, mua lại TCTD cổ phần Việt Nam có qui định:

- Các TCTD cổ phần đang hoạt động bình thường, nhưng tự nguyện xin sáp nhập, hợp nhất hoặc mua lại TCTD cổ phần khác để thành một TCTD cổ phần có quy mô lớn hơn, hoạt động an toàn hơn và có mức vốn điều lệ lớn hơn.

Các TCTD cổ phần được đặt trong tình trạng kiểm soát đặc biệt hoặc không đủ mức vốn điều lệ tối thiểu theo quy định của Nhà nước hoặc hoạt động yếu kém có thể tự nguyện xin sáp nhập, hợp nhất hoặc mua lại theo quy định. Trong trường hợp các TCTD cổ phần này không thể thực hiện theo hình thức tự nguyện và có nguy cơ đổ vỡ, Ngân hàng Nhà nước sẽ quyết định thu hồi giấy phép hoạt động (TCTD cổ phần phải giải thể, nếu có khả năng thanh toán hết nợ hoặc phá sản theo luật định) hoặc bắt buộc TCTD cổ phần phải sáp nhập, hợp nhất hoặc bán lại và chỉ định TCTD khác mua lại. Trường hợp xử lý bắt buộc được thực hiện khi có ý kiến đề nghị của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố liên quan và được Chính phủ chấp thuận.

Đối với nhà đầu tư nước ngoài muốn tham gia M&A với các ngân hàng Việt Nam

Theo Nghị định số 69/2007/NĐ-CP ngày 20/4/ 2007 của Chính phủ về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của ngân hàng thương mại Việt Nam: Các nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần của các ngân hàng Việt Nam (ngân hàng thương mại nhà nước được cổ phần hóa và ngân hàng thương mại cổ phần) với một số qui định sau:

- Tỉ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài:

+ Tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài (bao gồm cả cổ đông nước ngoài hiện hữu) và người có liên quan của các nhà đầu tư nước ngoài đó không vượt quá 30% vốn điều lệ của một ngân hàng Việt Nam.

+ Mức sở hữu cổ phần của một nhà đầu tư nước ngoài không phải là TCTD nước ngoài và người có liên quan của nhà đầu tư nước ngoài đó không vượt quá 5% vốn điều lệ của một ngân hàng Việt Nam.

+ Mức sở hữu cổ phần của một TCTD nước ngoài và người có liên quan của TCTD nước ngoài đó không vượt quá 10% vốn điều lệ của một ngân hàng Việt Nam.

+ Mức sở hữu cổ phần của nhà đầu tư chiến lược nước ngoài và người có liên quan của nhà đầu tư chiến lược nước ngoài đó không vượt quá 15% vốn điều lệ của một ngân hàng Việt Nam.

- Điều kiện để ngân hàng Việt Nam bán cổ phần cho các nhà đầu tư nước ngoài:

+ Vốn điều lệ tối thiểu đạt 1.000 tỷ đồng;

+ Có tình hình tài chính lành mạnh, đáp ứng các điều kiện liên quan của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;

+ Có bộ máy quản trị, điều hành, hệ thống kiểm tra, kiểm soát, kiểm toán nội bộ hoạt động có hiệu quả;

+ Không bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt do vi phạm các quy định về an toàn trong hoạt động ngân hàng trong thời gian 24 tháng đến thời điểm Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xem xét.

- Điều kiện của TCTD nước ngoài mua cổ phần của ngân hàng Việt Nam:

+ Có tổng tài sản Có tối thiểu tương đương 20 tỷ đô la Mỹ vào năm trước năm đăng ký mua cổ phần.

+ Có kinh nghiệm hoạt động quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng.

+ Được các tổ chức xếp loại tín nhiệm quốc tế xếp hạng ở mức có khả năng thực hiện các cam kết tài chính và hoạt động bình thường ngay cả khi tình hình, điều kiện kinh tế biến đổi theo chiều hướng không thuận lợi.

- Điều kiện của nhà đầu tư nước ngoài khi mua cổ phần của các ngân hàng Việt Nam trên thị trường chứng khoán: Khi ngân hàng Việt Nam niêm yết chứng khoán, nhà đầu tư nước ngoài được mua cổ phần của ngân hàng Việt Nam theo các quy định của pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán và phải tuân thủ tỷ lệ sở hữu cổ phần quy định như trên.

- Điều kiện tham gia quản trị tại ngân hàng Việt Nam:

+ Một TCTD nước ngoài chỉ được là nhà đầu tư chiến lược tại một ngân hàng Việt Nam.

+ Một TCTD nước ngoài chỉ được tham gia Hội đồng quản trị tại không quá hai ngân hàng Việt Nam.

4- MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT VÀ KIẾN NGHỊ

4.1 Tiêu chí sử dụng để tính toán thị phần của các ngân hàng Việt Nam

Vấn đề cần giải quyết

Theo chúng tôi, qui định hiện hành về cách tính thị phần của TCTD dựa trên doanh thu từ hoạt động bao gồm thu nhập tiền lãi; thu nhập từ hoạt động dịch vụ; thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại hối; thu nhập từ lãi góp vốn, mua cổ phần và thu nhập từ hoạt động kinh doanh khác là không hợp lý vì:

- Thu nhập của một ngân hàng từ hoạt động của mình không trực tiếp ảnh hưởng đến mức độ cạnh tranh của ngân hàng đó trên thị trường mà chỉ thể hiện tính hiệu quả của hoạt động cung ứng sản phẩm, dịch vụ ra thị trường cùng với năng lực quản lý, điều hành hiệu quả hoạt động kinh doanh và quản lý rủi ro của ngân hàng đó.

- Xuất phát từ bản chất tài chính của sản phẩm, dịch vụ do các ngân hàng cung cấp nên việc sử dụng thu nhập để tính thị phần sẽ không thể hiện được mức độ khống chế về mức độ cung ứng và kiểm soát thị trường trong khi điều này lại là một trong các lý do quan trọng của việc kiểm soát hoạt động M&A nói chung và trong lĩnh vực ngân hàng nói riêng.

Ngoài ra, trong điều kiện thông tin chưa đủ minh bạch ở thị trường ngân hàng Việt Nam hiện nay, trong trường hợp các ngân hàng Việt Nam muốn tính toán kế hoạch M&A có vi phạm qui định về tập trung kinh tế hay không cũng khó có thể thực hiện được.

Kiến nghị

Theo chúng tôi, khi xác định thị phần để quyết định tỉ lệ tập trung thị trường khi quyết định chấp thuận hay từ chối một vụ M&A nên sử dụng chỉ số cho thấy tốt nhất về năng lực cạnh tranh tương lai của doanh nghiệp. Ví dụ như có thể sử dụng doanh số bán nếu phân biệt các doanh nghiệp chủ yếu bằng sự khác biệt của các sản phẩm, hoặc sử dụng đơn vị hàng hóa tiêu thụ nếu sự phân biệt giữa họ chủ yếu dựa trên lợi thế tương đối của các doanh nghiệp trong việc phục vụ các khách hàng hoặc nhóm khách hàng khác nhau.

Do đó, đối với qui định sử dụng doanh thu để xác định thị phần (Nghị định số 116/2005/NĐ-CP) của các TCTD chưa phản ánh đúng bản chất của sự tập trung trong hoạt động ngân hàng mà nên sử dụng kết hợp các tiêu chí sau:

- Tỉ trọng tiền gửi/tổng tiền gửi của toàn ngành;

- Tỉ trọng tín dụng/tổng tín dụng của toàn ngành;

- Tỉ trọng thu nhập từ lãi suất/tổng thu nhập lãi suất của toàn ngành;

Mặt khác, khi tính toán mức độ tập trung, Việt Nam có thể xem xét sử dụng hệ số HHI để tính toán sẽ có ý nghĩa hơn về mặt thực tiễn thay vì chỉ cộng dồn thị phần của các tổ chức có liên quan mà không xét đến yếu tố trọng số liên quan.

Ngoài ra, khi Ngân hàng Nhà nước và Cục Quản lý cạnh tranh xem xét hoạt động M&A giữa các TCTD có thể sử dụng bất kỳ tiêu chí liên quan đến bất kỳ hoạt động nào của các TCTD nhằm tránh việc dẫn đến sự suy giảm cạnh tranh trong việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ tài chính ra thị trường dưới mọi góc độ.

4.2. Việc M&A giữa một ngân hàng Việt Nam và một TCTD phi ngân hàng

Vấn đề cần giải quyết

Hiện nay, trong các văn bản pháp luật chưa đề cập đến việc M&A giữa một ngân hàng Việt Nam và một TCTD phi ngân hàng, ví dụ như giữa một ngân hàng Việt Nam (ngân hàng A) và một công ty cho thuê tài chính (công ty B) tại một địa phương cụ thể (tỉnh X) mà nơi đó đã có sự hiện diện của chi nhánh hoặc công ty cho thuê tài chính của chính ngân hàng này và chỉ có họ mà thôi.

Điều cần lưu ý là các TCTD phi ngân hàng cũng cung cấp các dịch vụ tài chính – ngân hàng tương tự như các ngân hàng nhưng không đầy đủ và đa dạng bằng. Do đó, nếu đứng trên phạm vi toàn quốc thì trường hợp xảy ra M&A giữa hai tổ chức nói trên có thể sẽ không vi phạm qui định về tập trung kinh tế theo pháp luật hiện hành.

Như vậy, rõ ràng là sau khi vụ M&A diễn ra thì khách hàng có nhu cầu sử dụng các nghiệp vụ của công ty B chắc chắn sẽ không còn nhận được các sản phẩm, dịch vụ và điều kiện như cũ nữa vì trên địa bàn X chỉ còn duy nhất một đơn vị cung ứng loại sản phẩm, dịch vụ này là ngân hàng A. Điều này có nghĩa là hoạt động M&A giữa ngân hàng A và công ty B diễn ra đã gây phương hại đến hoạt động cạnh tranh tại địa phương X.

Kiến nghị

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động ngân hàng cần ban hành qui định về vấn đề này như sau:

- Các bên có liên quan phải đảm bảo sau khi tiến hành M&A giữa ngân hàng A và công ty B tại địa phương X (như ví dụ ở trên) không được làm xấu đi hiện trạng về việc cung ứng sản phẩm tài chính đang được cung cấp tại địa bàn như về chủng loại sản phẩm, giá cả, điều kiện tiếp cận trừ khi đưa ra những sản phẩm, dịch vụ mới – chưa được cung cấp tại đây;

- Trong trường hợp người sử dụng sản phẩm dịch vụ của công ty B hoặc ngân hàng A tại địa phương X khiếu nại và chứng minh được việc M&A giữa ngân hàng A và công ty B đã dẫn đến thiệt hại của mình thì ngân hàng A và công ty B phải chịu sự xử lý của pháp luật vì đã vi phạm qui định về cạnh tranh.

4.3. Giới hạn về mức độ tập trung trong lĩnh vực ngân hàng

Vấn đề cần giải quyết

Hiện nay, đang tồn tại tình trạng không thống nhất về cơ sở tính toán mức độ tập trung trong lĩnh vực ngân hàng giữa Luật Cạnh tranh và Nghị định số 69/2007/NĐ-CP.

Cụ thể là Luật Cạnh tranh qui định giới hạn mức độ tập trung trong lĩnh vực ngân hàng dựa trên thị phần, trong khi theo Nghị định số 69/2007/NĐ-CP lại qui định giới hạn về mức độ tập trung trong lĩnh vực ngân hàng căn cứ trên vốn điều lệ.

Kiến nghị

Nhằm đảm bảo tính nhất quán trong qui định của pháp luật và tạo điều kiện dễ dàng cho các tổ chức, cá nhân trong nước cũng như nước ngoài tham gia vào hoạt động M&A và việc quản lý hoạt động này đối với các cơ quan có thẩm quyền như Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Cục Quản lý cạnh tranh – Bộ Công thương, theo chúng tôi, cần sửa đổi qui định trong Nghị định số 69/2007/NĐ-CP theo Luật Cạnh tranh.

4.4. Một số vấn đề khác

Qui định hiện hành của Việt Nam liên quan đến hoạt động M&A trong lĩnh vực ngân hàng vẫn còn một số vấn đề chưa được qui định liên quan đến một số tình huống sau:

- Hoạt động M&A của TCTD phi ngân hàng nước ngoài và ngân hàng Việt Nam;

- Hoạt động M&A giữa các TCTD Việt Nam không phải là ngân hàng;

- Ngân hàng Việt Nam niêm yết ở nước ngoài;

- TCTD nước ngoài hoặc nhà đầu tư nước ngoài tham gia mua vốn tại hai ngân hàng Việt Nam trở lên;

Do đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần bổ sung thêm các qui định liên quan đến các vấn đề nói trên để hoạt động M&A trong lĩnh vực ngân hàng có thể được kiểm soát chặt chẽ và đầy đủ hơn.

(MKLAW FIRM: Biên tập.)

>> Xem thêm:  Thủ tục mua bán, sáp nhập doanh nghiệp thực hiện thế nào ? Cách lập hồ sơ xin sáp nhập công ty ?

3. Phân tích hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp ở Việt Nam ?

Hoạt động mua bán, sáp nhập DN (M&A) ở VN không mới. Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế ảm đạm chung, dù tiềm lực tài chính của DN suy giảm, nhưng hoạt động này vẫn được xem như một trong những giải pháp để củng cố nâng cao hiệu quả hoạt động.

Ngày 11.6, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Báo Đầu Tư đã tổ chức một hội thảo quốc tế chuyên nghiệp đầu tiên tại VN về lĩnh vực này.

Mua bán, sáp nhập doanh nghiệp đang nở rộ

Luật sư vấn pháp luật cho doanh nghiệp trực tuyến gọi số: 1900.6162

Tài chính, NH "đắt khách"

Theo Thứ trưởng Bộ KHĐT Nguyễn Bích Đạt, số liệu nghiên cứu năm 2007, VN có hơn 90 vụ sáp nhập và mua lại với giá trị giao dịch hơn 1,7 tỉ USD. Năm 2008 có gần 40 vụ sáp nhập và mua lại trị giá gần 350 triệu USD. Theo các chuyên gia kinh tế, trong 5 đến 10 năm nữa, sẽ có từ 30 đến 50% DN tại VN sáp nhập hoặc bị sáp nhập với đối tác khác. Đây vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với hoạt động M&A tại VN.

Theo các chuyên gia, sở dĩ có sự gia tăng rất nhanh các thương vụ M&A những năm qua là do tác động từ hai yếu tố: Nhu cầu mua tăng cao trong những năm 2006 - 2007. Vào thời điểm này, VN đang là điểm nóng về đầu tư. Rất nhiều NĐT trên toàn thế giới quan tâm đặc biệt tới thị trường VN và quyết định đầu tư vào VN.

Bên cạnh việc đầu tư thành lập mới DN thì việc góp vốn, mua cổ phần, sáp nhập, mua lại DN đang hoạt động cũng được coi là một phương thức nhanh chóng, hiệu quả để xâm nhập thị trường. Trái lại, trong thời kỳ kinh tế suy yếu, nhu cầu bán lại tăng cao. Điều này cộng với việc mở cửa thị trường mạnh mẽ, mức độ cạnh tranh khốc liệt thì rất nhiều DN ở VN đã không thể đứng vững, hoặc chủ động tìm kiếm đối tác để sáp nhập hoặc bị thôn tính thông qua mua lại.

Thống kê của các nhà nghiên cứu cũng như các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tư vấn về M&A cho thấy trong thời gian qua, hoạt động M&A tại VN diễn ra mạnh mẽ nhất trong lĩnh vực tài chính, NH gồm: NH, CK, bảo hiểm và một số lĩnh vực có liên quan. Điển hình có thể kể đến một số thương vụ lớn như Daiichi Nhật Bản mua lại toàn bộ Cty bảo hiểm nhân thọ Bảo Minh CMG, vụ AZN đầu tư vào NH Sacombank và CTCK SSI; HSBC - Techcombank...

Thời điểm 2008, trong lĩnh vực CK cũng bùng lên làn sóng tìm kiếm đối tác nước ngoài của các CTCK. Các CTCK lúc đó không chỉ chịu sức ép về vốn theo quy định mà rất nhiều CTCK gặp phải khó khăn khi thị trường suy giảm, khách hàng ít trong khi số lượng Cty cung cấp dịch vụ lại quá nhiều.

Một số thương vụ thu hút chú ý lúc đó do bán tới 49% (mức tối đa) như Morgan Standley mua cổ phần của CTCK Hướng Việt (sau này đổi tên thành CTCK Morgan Stanley Hướng Việt), Golden Bridge mua cổ phần của CTCK Nhấp & Gọi, Ngân hàng RHB (Malaysia) mua cổ phần CTCK Việt Nam...

Lĩnh vực NH tài chính trở thành tâm điểm của M&A trong thời gian qua tại VN xuất phát từ một số lý do: Thứ nhất, tiềm năng đối với việc phát triển tài chính, NH đang tăng cao. VN là nước đang phát triển, kinh tế đang bước vào thời kỳ biến động mạnh mẽ, dân số đông cho nên nhu cầu về vốn và dịch vụ liên quan đến vốn chắc chắn sẽ tăng cao. Theo số liệu thống kê của PricewaterhouseCoopers, lĩnh vực NH tại VN hiện tăng trưởng 20% mỗi năm kể từ đầu thập kỷ và hiện tại tổng giá trị tài sản đạt khoảng 80 tỉ USD.

Thứ hai, hiện tại, các cam kết gia nhập WTO đang được thực thi, theo đó, NĐTNN muốn gia nhập thị trường tài chính của VN phải chịu rất nhiều hạn chế nên NĐTNN không có sự lựa chọn nào hiệu quả hơn là tìm đến bài toán M&A. Thứ ba, bối cảnh khủng hoảng lại là thời cơ tốt nhất cho các NĐTNN thôn tính các Cty đang chật vật khó khăn.

Cần quy định rõ ràng hơn

Áp lực đào thải DN yếu kém trong bối cảnh khủng hoảng càng lớn thì hoạt động M&A được dự báo sẽ càng nở rộ. M&A không chỉ là một hoạt động giúp các DN yếu kém củng cố lại nguồn lực, mà cũng là một kênh đầu tư quan trọng giúp các NĐTNN thâm nhập vào những thị trường mới, nhất là khi phải đối mặt với sự khác lạ trong văn hóa kinh doanh. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động M&A tại VN vẫn còn chồng chéo và chưa thực sự rõ ràng.

Hiện VN đã trở thành thành viên chính thức của WTO, thông qua các cam kết về mở cửa thị trường NĐTNN sẽ đẩy mạnh đầu tư vào VN, trong đó, M&A là một kênh đầu tư quan trọng. Tuy nhiên, việc áp dụng các cam kết WTO còn nhiều khó khăn.

Chẳng hạn, hiện khái niệm NĐTNN trong quy định của pháp luật chưa có khái niệm chính thức. Thủ tục góp vốn, mua cổ phần, mặc dù cả Luật DN và Luật Đầu tư đều có quy định nhưng chưa thống nhất với nhau, đặc biệt là chưa có quy định rõ ràng về thủ tục góp vốn, mua cổ phần trong trường hợp mua dưới 49% và mua trên 49%.

Về quản lý cạnh tranh, luật quy định "cấm các bên tham gia thoả thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan từ 30% trở lên". Tuy nhiên, trong thực tế lại chưa có cơ chế phù hợp để xác định những giao dịch vi phạm tỉ lệ này.

Theo các chuyên gia, những vướng mắc trên sẽ càng trở nên phức tạp khi VN mở cửa, các tập đoàn lớn về phân phối, logistic, tài chính, NH trên thế giới sẵn sàng thôn tính các DN VN thông qua các giao dịch M&A.

(MKLAW FIRM: Biên tập.)

>> Tham khảo dịch vụ liên quan: Dịch vụ luật sư tư vấn cơ cấu lại doanh nghiệp;

>> Xem thêm:  Quy trình và thủ tục sáp nhập doanh nghiệp mới nhất ? Thủ tục sáp nhập công ty như thế nào ?

4. Mua bán, sáp nhập công ty thực hiện như thế nào là hợp pháp ?

Mua hay bán công ty là nói về một giao dịch nhưng ở vị trí khác nhau của người mua hay người bán; còn về phía công ty – anh “pháp nhân” tội nghiệp – thì bị mua hay được bán tức là nó sáp nhập với một pháp nhân khác.

Tư vấn thay đổi giấy phép kinh doanh: Tăng giảm vốn, sửa điều lệ, chia tách/sáp nhập công ty ?

Luật sư tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp trực tuyến gọi số: 1900.6162

Các cách mua bán

Một công ty có thể mua một công ty khác bằng một trong ba cách là: sáp nhập, mua tài sản, hay mua cổ phần/cổ phiếu của công ty kia. Sự khác biệt chính giữa ba cách này nằm ở các vấn đề sau: (i) công ty đi mua có ôm nợ của công ty bị bán không; (ii) cổ đông của cả hai bên, hoặc một bên, có phải biểu quyết để chấp thuận việc mua bán không; (iii) cổ đông của công ty bị mua có được hưởng lợi nhờ một sự định giá cổ phiếu do tòa án ra không (vì họ cãi nhau về giá bán) và (iv) mức thuế phải đóng cho giao dịch này.

Luật lệ của các nước phát triển ngày nay có khuynh hướng buộc công ty đi mua phải gánh nợ cho công ty bị bán; dù có là bán tài sản đi nữa, nếu bên mua lấy gần hết số tài sản và tiếp tục kinh doanh sau đó. Do việc này, hai bên mua bán phải bàn bạc kỹ lưỡng về việc người mua gánh nợ của người bán và người trước phải kiểm tra làm sao để biết chắc không có các món nợ trời ơi bỗng ở đâu rơi xuống đầu mình trong tương lai vì công việc kinh doanh trước kia hay hiện nay của bên bán.

Cách mua bán đầu tiên là sáp nhập được quy định trong luật doanh nghiệp. Diễn giải ra là A một công ty lớn mua B một công ty nhỏ; B sẽ sáp nhập vào A và bị giải thể để chỉ còn A. Cổ đông của B có thể được trả tiền mặt hay được cấp cổ phiếu của A; hoăc nhận cả hai thứ kia; hoặc có cổ đông này nhận tiền, người kia nhận cổ phiếu. Cách sáp nhập này uyển chuyển trong việc trả tiền.

Việc sáp nhập làm cổ đông của B bị thay đổi nhiều. Do vậy sẽ phải có sự chấp thuận của đại hội đồng cổ đông của cả A lẫn B. Nếu có đủ số phiếu đòi hỏi chấp thuận theo bản điều lệ (luật buộc 75% số vốn nắm giữ) của cả hai bên, thì việc sáp nhập diễn ra rồi hoàn tất và tất cả các món nợ của B chuyển sang A. Những cổ đông không bằng lòng với các điều kiện của việc sáp nhập có thể đòi trả tiền theo một giá công bằng cho cổ phần của mình và có khi vụ việc phải đưa ra tòa nếu họ và công ty không đồng ý với nhau về giá cả.

Ở các nước phát triển trong những năm gần đây, việc sáp nhập như trên được làm theo một cách khác là A lập ra một công ty con do mình nắm vốn trọn vẹn, thí dụ a; B sẽ sáp nhập vào a hay a sáp nhập vào B (A là chủ của a sẽ nắm cổ phần của B). Ngược lại, cổ đông của B có thể được cấp cổ phiếu của A dẫu cho A không can dự vào việc sáp nhập này (nhưng nó là mẹ của a, hay vốn của a là do A bỏ vào). Sự dàn xếp này liên quan đến cách trả tiền. Việc sử dụng công ty con để sáp nhập với công ty khác như thế có lợi cho A; thí dụ A không bị dính dáng gì với nợ nần của B; tránh được chuyện phải đưa vấn đề sáp nhập ra cổ đông biểu quyết. Đây là cách sử dụng một hình thức khác để đạt cùng nội dung.

Trong cách mua bán thứ hai, A bỏ tiền mua một số cổ phần của B, vừa đủ để nắm quyền kiểm soát B và biến B thành công ty con của mình. Việc mua bán này diễn ra giữa A – một pháp nhân – với một số cổ đông nào đó của B – tức là các cá nhân. Do đó, không có sự can dự của pháp nhân B, nghĩa là không cần có quyết định của hội đồng quản trị hay của đại hội đồng cổ đông của B. A còn nguyên, B cũng vậy.

Ở cách thứ ba, A mua tài sản của B bằng tiền mặt hay bằng cổ phiếu của mình, tức là trả tiền bằng cả hai thứ. Làm như vậy A có lợi là tránh được các món nợ của B. Thường thường B sẽ giải thể, trong tay có tiền hay cổ phiếu nhận từ A, họ phân chia cho các cổ đông. Trong cách mua bán này, không có sự mua bán giữa pháp nhân với các cổ đông của B; tuy nhiên, nếu số tích sản kia cao hơn 50% giá trị trong sổ sách thì phải có sự chấp thuận của các cổ đông nắm 75% số vốn. Các cổ đông không bằng lòng với việc mua bán họ có thể trả cổ phần lại cho công ty.

Mua bán ở ta và tập tục

Ở các nước phát triển, việc mua bán công ty rất phổ biến vì đó là cách để một cơ sở giỏi loại cơ sở yếu. Ngoài lý do này còn có những lý do khác như mua để giảm cạnh tranh, để kiểm soát việc sản xuất sản phẩm từ khâu đầu đến khâu cuối; để gom các loại sản phẩm khác nhau nhưng dùng cho cùng một mục đích sử dụng vào tay mình trong phạm vi luật cạnh tranh cho phép.

Ở ta cũng đã có một vài công ty mạnh mua công ty khác chế tạo sản phẩm cùng ngành (gạch mua sứ vệ sinh, bánh kẹo mua nước ngọt…). Việc mua bán công ty thường diễn ra giữa các công ty sản xuất vì sức ép phải cắt giảm giá thành. Khi một công ty có khả năng sản xuất hàng loạt thì giá thành sản phẩm của họ sẽ thấp nhờ sử dụng được nhiều hay tất cả chi phí bất biến (tiền thuê nhà, xưởng, chi phí hành chính…). Kinh tế học gọi việc này là hiệu quả của sự “sản xuất càng nhiều giá thành càng rẻ” hay “kinh tế quy mô lớn” (economies of scale). Từ những năm 1980, khi việc mua bán công ty diễn ra nhiều hơn, người ta có khái niệm “cơ sở càng to thì càng giàu” (economies of scope), ta chưa dịch được cụm từ này vì “scale” hay “scope” có nghĩa gần như nhau; nhưng cái trước áp dụng cho sản phẩm, cái sau cho cơ sở.

Việc mua bán công ty ở ta sẽ không diễn ra nhiều vì thiếu quản trị viên cấp cao để có thể làm giám đốc những cơ sở mới. Thí dụ A muốn mua B thì ông chủ A không còn thời giờ để sang làm chủ B được mà phải có “tay thân tín” cử sang nắm bên đó. Loại người đó hiếm; nếu có là ông chồng cử bà vợ. Lý do chính là vì cách quản trị doanh nghiệp hiện thời ở ta chưa giải quyết được hai vấn đề căn bản là thiếu người và thiếu tiền. Các doanh nghiệp cần phải thay đổi cách quản trị từ thuận tiện sang khoa học thì mới giải quyết được các vấn đề này.

Gần đây có trường hợp mua bán công ty khá lạ. Một công ty Việt Nam mua một công ty 100% vốn nước ngoài với giá 1 đô la Mỹ, nhưng nhận nợ 34 tỉ đồng của công ty sau. Ông giám đốc công ty đi mua bảo rằng mua như vậy là lời vì tên của công ty mình được biết đến; sau khi tái tổ chức sẽ bán đi; nếu thành công sẽ lời 500.000 đô la Mỹ; nếu thất bại chỉ mất đúng 1 đô la Mỹ cộng chi phí luật sư và ít chất xám. Nếu nhìn vào số tiền lãi phải trả hàng tháng kể từ khi mua xong mà sẽ lên tới hàng trăm triệu mỗi tháng, tùy mức lãi suất, không biết công ty đi mua sẽ tái tổ chức ra sao để có tiền trả lãi, chưa kể gốc, và bán có lời? Chắc là công ty ấy sẽ nổi tiếng!

Khi mua bán công ty, người đi mua nhờ luật sư và kế toán kiểm tra kỹ càng về tình hình tài chính và pháp lý của công ty bị mua. Công việc có thể kéo dài cả tháng. Được công ty bán cho làm như vậy, công ty mua phải trả một số tiền nhất định. Sau khi kiểm tra xong mà không mua thì mất số tiền đó. Từ chuyên môn tiếng Anh gọi việc này là “due diligence”, dịch nôm na ra là “cẩn thận đúng mức”, danh từ chính thức của ta chưa có.

(MKLAW FIRM: Biên tập.)

>> Xem thêm:  Trình tự, thủ tục sáp nhập doanh nghiệp ? Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp nhận sáp nhập ?

5. Thủ tục thay đổi giấy phép kinh doanh khi sáp nhập công ty ?

Xin luật sư cho hỏi công ty chúng tôi là công ty cổ phần bao gồm 3 thành viên, hiện nay công ty chúng tôi muốn thay đổi 01 thành viên HĐQT. Vậy luật sư cho hỏi ngoài thay đổi điều lệ công ty thì có phải đăng ký thay đổi với phòng Đăng ký kinh doanh không?
Xin trân trọng cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

​Trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp có quyền đăng ký thay đổi các nội dung kinh doanh. Luật Minh Khuê Tư vấn thay đổi giấy phép kinh doanh: Tăng giảm vốn, sửa điều lệ, chia tách/sáp nhập công ty:

Điều 30 Luật doanh nghiệp năm 2020 quy định như sau:

Điều 30. Đăng ký thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

Điều 28 Luật Doanh nghiệp quy định như sau:

Điều 28. Nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây:

1. Tên doanh nghiệp và mã số doanh nghiệp;

2. Địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp;

3. Họ, tên, địa chỉ liên lạc, quốc tịch, số giấy tờ pháp lý của cá nhân đối với người đại diện theo pháp luật của công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần; đối với thành viên hợp danh của công ty hợp danh; đối với chủ doanh nghiệp của doanh nghiệp tư nhân. Họ, tên, địa chỉ liên lạc, quốc tịch, số giấy tờ pháp lý của cá nhân đối với thành viên là cá nhân; tên, mã số doanh nghiệp và địa chỉ trụ sở chính của thành viên là tổ chức đối với công ty trách nhiệm hữu hạn;

4. Vốn điều lệ đối với công ty, vốn đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân.

Như vậy, nếu như công ty bạn thay đổi 01 thành viên Hội đồng quản trị và thành viên này là người đại diện theo pháp luật thì công ty bạn cần phải tiến hành thay đổi nội dung trên giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Xin chào quý Cty luật Minh Khuê !Tôi muốn thay đổi giấy phép kinh doanh : "tăng vốn điều lệ" của công ty cổ phần.Vậy tôi phải làm những hồ sơ gì?Quý công ty vui lòng tư vấn giúp, tôi thành thật cảm ơn.Trân Trọng Thanks and best regards, Trường An

=> Theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Điều 44 Nghị định 78/2015/NĐ-CP đăng ký doanh nghiệp thì hồ sơ điều chỉnh vốn điều lệ của công ty cổ phần bao gồm những giấy tờ sau:

1. Thông báo tăng vốn điều lệ có chữ ký của người đại diện theo pháp luật .

2. Quyết định về việc tăng vốn điều lệ của Đại hội đồng cổ đông có chữ ký của Chủ tịch hội đồng quản trị.

3. Biên bản họp về việc tăng vốn điều lệ của Đại hội đồng cổ đông có chữ ký của chủ tọa và thư ký cuộc họp hoặc chữ ký của các cổ đông dự họp và có đóng dấu treo của công .

5. Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và bản chính Giấy chứng nhận đăng ký thuế hoặc bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế.

6. Xuất trình bản chính Giấy Chứng nhận Đăng ký kinh doanh hoặc bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế.

Cơ quan đăng ký kinh doanh có trách nhiệm xem xét tính hợp lệ của hồ sơ và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mới trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ.Trường hợp từ chối thì phải thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp biết. Thông báo phải nêu rõ lý do; các yêu cầu sửa đổi, bổ sung (nếu có).

Dear Anh/Chị, Em có 1 vấn đề liên quan đến luật doanh nghiệp, mong Anh/Chị tư vấn Công ty em là công ty cổ phần thành lập từ năm 2008 và thay đổi lần cuối vào năm 2013. Vốn điều lệ: 4,5 tỷ Mệnh giá cổ phần: 10.000đ Tổng số cổ phần: 450.000 Số cổ phần được quyền chào bán: 50.000 Tổng số cổ phần của cổ đông sáng lập tương ướng với vốn điều lệ. Số cổ phần chào bán chưa có ai mua. Vậy, em có thể làm thủ tục thay đổi cơ cấu vốn điều lệ như thế nào? Trân trọng!

=> Theo quy định pháp luật, cụ thể Điều 44 Nghị định 78/2015/NĐ-CP quy định về thủ tục thay đổi vốn điều lệ bao gồm những giấy tờ sau:

"Điều 44. Đăng ký thay đổi vốn điều lệ, thay đổi tỷ lệ vốn góp
1. Trường hợp công ty đăng ký thay đổi tỷ lệ vốn góp của các thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, của các thành viên hợp danh công ty hợp danh, công ty gửi Thông báo đến Phòng Đăng ký kinh doanh nơi công ty đã đăng ký. Nội dung Thông báo gồm:
a) Tên, mã số doanh nghiệp, mã số thuế hoặc số Giấy chứng nhận đăng kinh doanh (trường hợp doanh nghiệp chưa có mã số doanh nghiệp, mã số thuế);
b) Họ, tên, địa chỉ, quốc tịch, số Chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác quy định tại Điều 10 Nghị định này hoặc số quyết định thành lập, mã số doanh nghiệp của mỗi thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, của thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh;
c) Tỷ lệ phần vốn góp của mỗi thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên hoặc của mỗi thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh;
d) Vốn điều lệ đã đăng ký và vốn điều lệ đã thay đổi; thời điểm và hình thức tăng giảm vốn;
đ) Họ, tên, quốc tịch, số Chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác quy định tại Điều 10 Nghị định này, địa chỉ thường trú và chữ ký của người đại diện theo pháp luật của công ty hoặc thành viên hợp danh được ủy quyền đối với công ty hợp danh.
2. Trường hợp đăng ký thay đổi vốn điều lệ công ty, kèm theo Thông báo quy định tại Khoản 1 Điều này phải có Quyết định và bản sao hợp lệ biên bản họp của Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, của Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần; Quyết định của chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên về việc thay đổi vốn điều lệ của công ty; văn bản của Sở Kế hoạch và Đầu tư chấp thuận về việc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài đối với trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 26 Luật Đầu tư.
3. Trường hợp Đại hội đồng cổ đông thông qua việc phát hành cổ phần chào bán để tăng vốn điều lệ, đồng thời giao Hội đồng quản trị thực hiện thủ tục đăng ký tăng vốn điều lệ sau khi kết thúc mỗi đợt chào bán cổ phần, kèm theo Thông báo quy định tại Khoản 1 Điều này, hồ sơ đăng ký tăng vốn điều lệ phải có:
a) Quyết định và bản sao hợp lệ biên bản họp của Đại hội đồng cổ đông về việc phát hành cổ phần chào bán để tăng vốn điều lệ, trong đó nêu rõ số lượng cổ phần chào bán và giao Hội đồng quản trị thực hiện thủ tục đăng ký tăng vốn điều lệ sau khi kết thúc mỗi đợt chào bán cổ phần;
b) Quyết định và bản sao hợp lệ biên bản họp của Hội đồng quản trị công ty cổ phần về việc đăng ký tăng vốn điều lệ công ty sau khi kết thúc mỗi đợt chào bán cổ phần.
Quyết định, biên bản họp phải ghi rõ những nội dung được sửa đổi trong Điều lệ công ty.
4. Trường hợp giảm vốn điều lệ, doanh nghiệp phải cam kết bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác sau khi giảm vốn, kèm theo Thông báo phải có thêm báo cáo tài chính của công ty tại kỳ gần nhất với thời điểm quyết định giảm vốn điều lệ.
5. Khi nhận Thông báo, Phòng Đăng ký kinh doanh trao Giấy biên nhận, kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp."

Xin chào! Cho em hỏi, trong hồ sơ thay đổi giấy phép kinh doanh- thay đổi cổ đông sáng lập, có yêu cầu cung cấp bản sao chứng minh nhân dân của cổ đông sáng lập mới, Vậy bản sao này là bản photo , có cần công chứng không ạ? Xin cảm ơn! -- Nguyễn Tuyết Trinh Thư ký Công ty Cổ Phần Đầu Tư Bất Động Sản Hùng Vương

=> Khoản 10 Điều 3 Nghị định 78/2015/NĐ-CP quy định như sau:

"10. Bản sao hợp lệ các giấy tờ trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp là bản sao được cấp từ sổ gốc hoặc bản sao được chứng thực từ bản chính bởi cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hoặc bản sao đã được đối chiếu với bản chính."

Như vậy, chứng minh nhân dân bản sao phải được chứng thực.

Thưa luật sư, xin hỏi: Công ty em là công ty cổ phần hoạt động bên ngành nghề xây dựng, năm 2015 có mua 1 căn hộ đã đưa vào tài sản của công ty. Nay công ty muốn bán căn hộ này cho cá nhân, cho em hỏi công ty em có phải xuất hóa đơn giá trị gia tăng cho cá nhân này không? Em cảm ơn anh chị.

=> Điều 2 Thông tư 39/2014/TT-BTC quy định như sau:

"Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Người bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, gồm:

a) Tổ chức, hộ, cá nhân Việt Nam kinh doanh bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ tại Việt Nam hoặc bán ra nước ngoài;

b) Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ tại Việt Nam hoặc sản xuất kinh doanh ở Việt Nam bán hàng ra nước ngoài;

c) Tổ chức, hộ, cá nhân Việt Nam hoặc tổ chức, cá nhân nước ngoài không kinh doanh nhưng có bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ tại Việt Nam.

2. Tổ chức nhận in hóa đơn, tổ chức cung ứng phần mềm tự in hóa đơn, tổ chức trung gian cung ứng giải pháp hóa đơn điện tử.

3. Tổ chức, cá nhân mua hàng hóa, dịch vụ.

4. Cơ quan quản lý thuế các cấp và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc in, phát hành và sử dụng hóa đơn."

Khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại quy định như sau:

"2. Hàng hóa bao gồm:

a) Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai;

b) Những vật gắn liền với đất đai."

Khoản 1 Điều 18 Thông tư 39/2014/TT-BTC quy định như sau:

"Điều 18. Bán hàng hóa, dịch vụ không bắt buộc phải lập hóa đơn

1. Bán hàng hóa, dịch vụ có tổng giá thanh toán dưới 200.000 đồng mỗi lần thì không phải lập hóa đơn, trừ trường hợp người mua yêu cầu lập và giao hóa đơn..."

Như vậy, theo quy định pháp luật trên thì trong trường hợp này, nếu công ty này tính thuế theo phương pháp khấu trừ thì khi bán căn hộ sẽ phải xuất hóa đơn giá trị gia tăng cho bạn.

Như vậy, nếu như công ty bạn thay đổi những nội dung trên thì bạn phải làm thủ tục thay đổi Điều lệ công ty.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật Doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn mua bán, sáp nhập doanh nghiệp

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp có thể hiện tên các thành viên góp vốn?

Trả lời:

Không! Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp chỉ thể hiện các nội dung quy đình tại Điều 28 luật doanh nghiệp bao gồm:

Điều 28. Nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây:

1. Tên doanh nghiệp và mã số doanh nghiệp;

2. Địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp;

3. Họ, tên, địa chỉ liên lạc, quốc tịch, số giấy tờ pháp lý của cá nhân đối với người đại diện theo pháp luật của công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần; đối với thành viên hợp danh của công ty hợp danh; đối với chủ doanh nghiệp của doanh nghiệp tư nhân. Họ, tên, địa chỉ liên lạc, quốc tịch, số giấy tờ pháp lý của cá nhân đối với thành viên là cá nhân; tên, mã số doanh nghiệp và địa chỉ trụ sở chính của thành viên là tổ chức đối với công ty trách nhiệm hữu hạn;

4. Vốn điều lệ đối với công ty, vốn đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân.

Câu hỏi: Sáp nhập công ty được hiểu như thế nào?

Trả lời:

Một hoặc một số công ty (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập.

Câu hỏi: Sáp nhập công ty có đồng nghĩa với việc nghĩa vụ chấm dứt hoàn toàn hay không?

Trả lời:

Sau khi sáp nhập, công ty nhận sáp nhập đương nhiên kế thừa toàn bộ quyền, nghĩa vụ, và lợi ích hợp pháp của các công ty bị sáp nhập theo hợp đồng sáp nhập.