1. Doanh nghiệp công nghệ số được hiểu là gì?

Doanh nghiệp số, hay còn được gọi là Digital Enterprise, là thuật ngữ ám chỉ việc các tổ chức và doanh nghiệp sử dụng công nghệ số và các công nghệ tiên tiến nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động và tạo ra giá trị bền vững. Đây là quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực kinh doanh, bao gồm việc tích hợp các công nghệ như trí tuệ nhân tạo (AI), Internet of Things (IoT), dữ liệu lớn, blockchain và nhiều công nghệ khác vào các quy trình và hoạt động của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp số có khả năng thích ứng và đáp ứng nhanh chóng với sự biến đổi không ngừng của thị trường, đồng thời đặc biệt quan trọng là bảo vệ dữ liệu và tương tác với khách hàng một cách an toàn và bảo mật.

 

2. Thúc đẩy phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam

Dựa trên các tiến bộ công nghệ mới, với trọng tâm là công nghệ số như trí tuệ nhân tạo, học máy sâu, dữ liệu lớn, blockchain, điện toán đám mây, và internet vạn vật, quá trình chuyển đổi số đang mở ra một không gian phát triển mới - kinh tế số, xã hội số, và chính phủ điện tử. Điều đặc biệt là, chuyển đổi số đang tạo ra cơ hội lớn cho Việt Nam để phát triển một cách đột phá, nhanh chóng bắt kịp các nước phát triển, những nước mới chỉ bắt đầu tiến hành quá trình này.

Vì vậy, việc phát triển các doanh nghiệp công nghệ số tại Việt Nam, từ việc áp dụng, chuyển giao, nghiên cứu và phát triển sản phẩm, nền tảng, đến giải pháp dựa trên công nghệ số, đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc khai thác các cơ hội và tiềm năng của chuyển đổi số. Các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam cần đứng đầu, tạo ra các bước tiến lớn trong việc thực hiện chiến lược "Make in Việt Nam" với mục tiêu là "Doanh nghiệp Việt Nam tự chủ về công nghệ, proactively design và sản xuất các sản phẩm, proactively innovate trong việc cung cấp các dịch vụ, giải pháp, và mô hình kinh doanh mới." Những doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam sẽ đóng góp vào việc thực hiện sứ mệnh đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp phát triển, với mục tiêu đưa đất nước trở thành một nền kinh tế bền vững và phát triển nhanh chóng, hướng tới mục tiêu trở thành một quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045.

Theo mô hình của các quốc gia có nền kinh tế phát triển dựa trên các doanh nghiệp công nghệ số, đến năm 2030, Việt Nam cần ít nhất 100,000 doanh nghiệp công nghệ số để phát triển kinh tế số, xây dựng đô thị thông minh, và triển khai các dịch vụ chính phủ điện tử, đồng thời ứng dụng công nghệ số rộng rãi trong mọi lĩnh vực kinh tế và xã hội, đảm bảo thực hiện chuyển đổi số quốc gia. Có bốn loại doanh nghiệp công nghệ số cần tập trung phát triển, bao gồm: (i) Các tập đoàn, doanh nghiệp lớn trong các lĩnh vực kinh tế và xã hội chuyển hướng hoạt động sang lĩnh vực công nghệ số và đầu tư vào nghiên cứu công nghệ cốt lõi; (ii) Các doanh nghiệp công nghệ thông tin có thương hiệu đã khẳng định vị thế tiên phong trong việc nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ số, và tự chủ trong sản xuất; (iii) Các doanh nghiệp khởi nghiệp sử dụng công nghệ số để tạo ra các sản phẩm, dịch vụ mới trong các lĩnh vực kinh tế và xã hội; và (iv) Các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo về công nghệ số.

Khát vọng của Việt Nam về một tương lai mạnh mẽ, với thị trường tiềm năng hơn 100 triệu người và những thách thức đặc biệt trong nông nghiệp, giao thông, y tế, giáo dục, tài chính, tài nguyên, môi trường... cung cấp một cơ hội lớn cho các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam để phát triển mạnh mẽ và mở rộng ra thị trường quốc tế.

 

3. Những giải pháp thúc đẩy phát triển doanh nghiệp công nghệ số

Để đạt được mục tiêu phát triển 100,000 doanh nghiệp công nghệ số tại Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã ra yêu cầu cho Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước và các doanh nghiệp Việt Nam, cần tập trung thực hiện triệt để 12 giải pháp sau:

- Xây dựng Chiến lược quốc gia về phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam đến năm 2030 và đề xuất ban hành trong năm 2020.

- Xây dựng Kế hoạch phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam theo từng ngành và từng địa phương trong giai đoạn 2021-2025 và 2026-2030.

- Thành lập 01 đầu mối tại Trung ương và 01 đầu mối tại mỗi địa phương để tổ chức hoạt động tư vấn và hỗ trợ cho doanh nghiệp công nghệ số.

- Xây dựng khung chính sách thử nghiệm cho các sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới ứng dụng công nghệ số tại Việt Nam trong giai đoạn 2020-2021.

- Phát triển chính sách và giải pháp để tạo ra một thị trường cho các doanh nghiệp công nghệ số, bao gồm cả các doanh nghiệp khởi nghiệp, trong các lĩnh vực như chính phủ điện tử, chuyển đổi số, đô thị thông minh và nông nghiệp thông minh.

- Cải cách quy định về Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp để đầu tư vào hoạt động khởi nghiệp sáng tạo và công nghệ.

- Đơn giản hóa thủ tục quản lý và sử dụng Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp để tăng cường đầu tư cho ứng dụng và đổi mới công nghệ.

- Nghiên cứu và đề xuất việc thành lập Quỹ phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam với nguồn vốn huy động từ xã hội.

- Hỗ trợ ít nhất 5-10 doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam trong việc phát triển các sản phẩm số trọng điểm quốc gia trước năm 2025.

- Phát triển ít nhất 5-10 nền tảng công nghệ số dùng chung để thúc đẩy ứng dụng công nghệ số trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội và đưa vào sử dụng trước năm 2025.

- Định kỳ tổ chức Diễn đàn quốc gia về phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam.

- Tuyên dương các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam tiêu biểu và tổ chức các hoạt động xúc tiến đầu tư, quảng bá thương mại để hỗ trợ xuất khẩu cho các sản phẩm, dịch vụ, giải pháp và mô hình kinh doanh của doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam.

Thủ tướng Chính phủ đã giao nhiệm vụ cho các tập đoàn và doanh nghiệp lớn, có sức mạnh về nhân lực và tài chính, để đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, kiểm soát công nghệ cốt lõi, xây dựng nền tảng công nghệ số dùng chung và phát triển hệ sinh thái số cho cộng đồng doanh nghiệp công nghệ ở Việt Nam. Các doanh nghiệp này cũng được yêu cầu tiên phong trong việc chuyển đổi số, dẫn đầu cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình chuyển đổi này. Đồng thời, họ cần tăng cường việc đặt hàng nghiên cứu tại các trường đại học và cơ sở nghiên cứu để tạo ra các giải pháp công nghệ số phục vụ cho doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực gia công và lắp ráp trong ngành công nghệ thông tin, điện tử và viễn thông, đã điều chỉnh chiến lược sản xuất và kinh doanh của họ để tập trung vào việc tự nghiên cứu, phát triển và cung cấp các sản phẩm công nghệ số.

Các doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo đã tự chủ sử dụng các giải pháp nền tảng công nghệ số của Việt Nam và cung cấp các giải pháp công nghệ số để thúc đẩy sự phát triển đồng đều của cả khu vực kinh tế thành thị và nông thôn. Họ đã đưa công nghệ số vào mọi khía cạnh của đời sống và kinh tế - xã hội, cùng với việc tham gia tích cực vào quá trình hình thành Quỹ phát triển doanh nghiệp công nghệ số của Việt Nam.

Thủ tướng cũng đã yêu cầu các đài truyền hình và các cơ quan truyền thông như Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, và Thông tấn xã Việt Nam, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương, tăng cường việc tuyên truyền về vai trò của doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam. Đồng thời, họ cũng được yêu cầu tăng thời lượng phát sóng về chủ trương phát triển doanh nghiệp công nghệ số trong các chương trình hiện có.

Bài viết liên quan: Doanh nghiệp số là gì? Đặc điểm mô hình doanh nghiệp số

Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê liên quan đến vấn đề: Quy định về thúc đẩy phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam. Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!