1. Thuê xe tự lái và gây tai nạn phải chịu trách nhiệm gì ?

Chào luật Minh Khuê, Ngày 28/12/2016 bạn tôi có thuê 1 chiếc xe oto 7 chỗ tự lái mà không có bảo hiểm xe khi giao xe thì đã say xỉn, nên khi tham gia giao thông đã có nồng độ cồn trong người và gây tai nạn. Khi giải quyết bồi thường thì bắt bạn tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm không ? Mong anh chị giải đâp thắc mắc này giúp em ?
Em xin chân thành cảm ơn

>> Luật sư tư vấn luật Giao thông trực tuyến, gọi: 1900.0159

Luật sư tư vấn:

Tường hợp bạn là người cho thuê xe, là chủ phương tiện hợp pháp.

Xe ô tô được coi là nguồn nguy hiểm cao độ theo khoản 1 Điều 601 và điểm 13 điều 3 luật giao thông đường bộ và chồng bạn là người chiếm hữu, sử dụng ô tô hợp pháp. Theo điều 601 Bộ luật dân sự 2015 :

Theo Điều 601, BLDS 2015 thì: “Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau đây: (i) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại; (ii) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; Trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải BTTH.
Khi chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới BTTH”.
Việc áp dụng quy định về BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra phải xác định thiệt hại đó do tự thân nguồi nguy hiểm cao độ gây ra hay do hành vi sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ. Theo chúng tôi, chỉ được coi là nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại khi có đủ hai yếu tố sau: (1) Phải có sự hiện diện của một loại nguồn nguy hiểm cao độ, tức là tài sản gây thiệt hại phải là nguồn nguy hiểm cao độ

Theo quy dịnh của pháp luật hiện hành thì:

đ) Nếu chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ đã giao nguồn nguy hiểm cao độ cho người khác mà gây thiệt hại thì phải xác định trong trường hợp cụ thể đó người được giao nguồn nguy hiểm cao độ có phải là người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ hay không để xác định ai có trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Ví dụ: A là chủ sở hữu xe ô tô đã giao xe ô tô đó cho B. B lái xe ô tô tham gia giao thông đã gây tai nạn và gây thiệt hại thì cần phải phân biệt:

- Nếu B chỉ được A thuê lái xe ô tô và được trả tiền công, có nghĩa B không phải là người chiếm hữu, sử dụng xe ô tô đó mà A vẫn chiếm hữu, sử dụng; do đó, A phải bồi thường thiệt hại.

- Nếu B được A giao xe ô tô thông qua hợp đồng thuê tài sản, có nghĩa A không còn chiếm hữu, sử dụng xe ô tô đó mà B là người chiếm hữu, sử dụng hợp pháp; do đó, B phải bồi thường thiệt hại. Nếu trong trường hợp này được sự đồng ý của A, B giao xe ô tô cho C thông qua hợp đồng cho thuê lại tài sản, thì C là người chiếm hữu, sử dụng hợp pháp xe ô tô đó; do đó, C phải bồi thường thiệt hại.

Căn cứ vào quy định trên, do bạn cung cấp thông tin bạn là người cho thuê xe nếu có hợp đồng thuê thì trách nhiệm bồi thường đặt ra với bạn của bạn là người trực tiếp có lỗi. Tuy nhiên nếu việc bạn cho bạn của bạn mượn xe mà không có hợp đồng thuê xe, chỉ có thỏa thuận miệng thì trách nhiệm bồi thường cũng đặt ra với bạn.Bạn được coi là người có lỗi khi giao xe cho người không đủ đk điều khiển phương tiện. TạiLuật Giao thông đường bộ năm 2008 các TH pháp luật cấm là:

Giao xe cơ giới, xe máy chuyên dùng cho người không đủ điều kiện để điều khiển xe tham gia giao thông đường bộ."

>> Bài viết tham khảo thêm: Trách nhiệm khi lái xe trong tình trạng say rượu gây tai nạn ?

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay tới số: 1900.0159 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Đối tượng tác động của tội phạm ? Phân biệt với khách thể của tội phạm ?

2. Khi gây tai nạn phải bồi thường những khoản gì ?

Em chào luật sư, em có một vấn đề cần luật sư tư vấn như sau: Em chạy xe trên đường, trong lúc vượt nhanh bên phải thì va chạm với xe có ý rẽ vào lề nhưng không bật xi-nhan, khi em té xuống đường thì vô tình lại va chạm với người mang bầu nhưng nhìn có vẻ nhẹ, chị bảo là bị đau bụng nên em đưa vào bệnh viện.

Kết quả sau khi chụp khám thai là bình thường và không có chỉ định thêm của bác sĩ là phải nhập viện để theo dõi nhưng chị lại bảo ứng trước cho chị 1tr để chị nhập viện vì sợ ảnh hưởng đến thai. Luật sư cho em hỏi:

- Thứ nhất: Chi phí điều trị mà không có chỉ định của bác sĩ thì em có trách nhiệm phải bồi thường hay không?

- Thứ hai: Khi bồi thường chi phí thì phải có hóa đơn chứng minh chi phí có đúng hay không?

- Thứ ba: Trong lúc em vắng mặt chị tự ý thanh toán chi phí là 930.000, do không đủ nên lại mượn tiền những người trong bệnh viện là 100k, nhưng thực chất là chi phí chỉ có 350000 và không có hóa đơn 930.000, chị bắt buộc em phải bồi thường số tiền trên, cho em hỏi như vậy là có bị quy vào tội lừa đảo hay không và mức xử phạt dựa vào số tiền lừa đảo là như thế nào?

Cám ơn luật sư!

>> Luật sư tư vấn Luật dân sự trực tuyến gọi: 1900.0159

Trả lời

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì bạn đang điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên đường đồng thời có hành vi vượt nhanh và đã gây tai nạn cho người phụ nữ đang mang thai. Như vậy, có thể thấy rằng trong trường hợp này, bạn là người có hành vi có lỗi, có hành vị trái pháp luật và gây ra thiệt hai do đó, theo quy định tại Điều584 Bộ Luật Dân sự năm 2015 thì hành vi này của bạn đã phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Điều 584: Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này

Theo quy dịnh của pháp luật hiện hành thì:

"5. Nghĩa vụ chứng minh của các đương sự

a) Người bị thiệt hại yêu cầu bồi thường thiệt hại phải nêu rõ từng khoản thiệt hại thực tế đã xảy ra, mức yêu cầu bồi thường và phải có chứng từ hoặc giấy biên nhận hợp lệ về các khoản chi phí hợp lý, về thu nhập của người bị thiệt hại.

b) Người gây thiệt hại yêu cầu giảm mức bồi thường thiệt hại phải có tài liệu, chứng cứ về khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình không đủ để bồi thường toàn bộ hoặc phần lớn thiệt hại đã xảy ra.

c) Người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại yêu cầu thay đổi mức bồi thường thiệt hại phải có đơn xin thay đổi mức bồi thường thiệt hại. Kèm theo đơn là các tài liệu, chứng cứ làm căn cứ cho việc xin thay đổi mức bồi thường thiệt hại.

d) Việc chứng minh không có lỗi thuộc nghĩa vụ của người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại."

Như vậy, tất cả những khoản thiệt hại mà người bị thiệt hại yêu cầu bạn phải bồi thường đều phải có chứng từ, giấy biên nhận hợp lệ. Nếu người bị thiệt hại không có chứng từ, giấy biên nhận hợp lệ thì bạn không phải bồi thường.

Đối với khoản chi phí mà người bị thiệt hại nói với bạn là đã thanh toán 930.000 VNĐ, tuy nhiên, thực chất là chi phí chỉ có 350000 và không có hóa đơn 930.000, trong trường hợp này nếu người bị thiệt hại chưa từng bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản thì người bị thiệt hại sẽ phải chịu trách nhiệm hành chính, cụ thể Điểm c Khoản 1 Điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định như sau:

"Điều 15. Vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của người khác
1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Trộm cắp tài sản;
b) Công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác;
c) Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác;.."

Nếu người bị thiệt hại đã từng bị xử lý vi phạm hành chính về hành vị chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 Bộ Luật Hình sự năm 2015:

"Điều 174 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật hình sự 2015, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Tuổi chịu trách nhiệm hình sự là bao nhiêu theo luật hình sự ?

3. Quy định về bồi thường khi gây tai nạn giao thônq ?

Thưa Luât sư! Cách đây ít bữa chồng em có va chạm với một anh đi xe máy ( chồng em cũng đi xe máy). Chồng em đi đúng làn đường, không rượu bia, giấy tờ xe đầy đủ, đi chậm. Khi đang đi có một anh đi xe máy với tốc độ cao đi ngược đường đâm vào. Do chồng em đi chậm nên chỉ bị xây xát nhẹ còn anh kia bị nặng nát hết mặt.
Lúc xảy ra tai nạn có người làm chứng chồng em đi đúng đường, lúc đưa họ đi cấp cứu thì có người khác đưa đi vì công an giữ chồng em lại để lập hồ sơ. Bây giờ công an muốn hai bên tự thương lượng thì chồng em muốn hỗ trợ nhà anh kia 5 triệu đồng nhưng họ không đồng ý mà họ nói anh kia tỉnh dậy nói bị đâm từ phía sau nhưng công an nói không thể bị đâm từ đằng sau được. (Anh kia có nói anh ý có đi uống bia về). Họ nói muốn đưa ra công an. Vậy luật sư cho em hỏi trường hợp ra công an chồng em có phải bồi thường cho gia đình anh kia không?
Xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.0159

Trả lời:

Theo Bộ luật dân sự 2015:

Điều 584: Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này

Theo đó, trong trường hợp này, bạn phải có trách nhiệm bồi thường cho bên bị thiệt hại. Khoản tiền bồi thường sẽ do hai bên tự thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được hai bên có quyền khởi kiện lên Tòa án hoặc các cơ quan có thẩm quyền yêu cầu xác định khoản tiền bồi thường.

Theo quy dịnh của pháp luật hiện hành thì:

Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm được bồi thường bao gồm:

1.1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu... theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ... để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).

1.2. Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khoẻ bị xâm phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.

a) Thu nhập thực tế của người bị thiệt hại được xác định như sau:
- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động, thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người đó bị xâm phạm sức khoẻ nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.
- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại có làm việc và hàng tháng có thu nhập thực tế nhưng mức thu nhập của các tháng khác nhau, thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề (nếu chưa đủ 6 tháng thì của tất cả các tháng) trước khi sức khoẻ bị xâm phạm nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.
- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng không ổn định và không thể xác định được, thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.
- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại chưa làm việc và chưa có thu nhập thực tế thì không được bồi thường theo quy định .

b) Xác định thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại được thực hiện như sau:
Bước một: Xác định thu nhập thực tế của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị có hay không. Nếu có thì tổng số thu nhập là bao nhiêu.
Bước hai: Lấy tổng số thu nhập thực tế mà người bị thiệt hại có được trong thời gian điều trị so sánh với thu nhập thực tế tương ứng được xác định theo hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 1.2 này. Nếu không có khoản thu nhập thực tế nào của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị thì thu nhập thực tế của người bị thiệt hại bị mất; nếu thấp hơn thì khoản chênh lệch đó là thu nhập thực tế của người bị thiệt hại bị giảm sút; nếu bằng thì thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không bị mất.

Ví dụ 1: A làm nghề sửa xe máy tự do. Thu nhập thực tế của A trước khi sức khoẻ bị xâm phạm là ổn định, trung bình mỗi tháng là một triệu đồng. Do sức khoẻ bị xâm phạm, A phải điều trị nên không có khoản thu nhập nào. Trong trường hợp này thu nhập thực tế của A bị mất.

Ví dụ 2: B làm công cho một công ty trách nhiệm hữu hạn. Thu nhập thực tế của B trước khi sức khoẻ bị xâm phạm là ổn định, trung bình mỗi tháng là 600 ngàn đồng. Do sức khoẻ bị xâm phạm, B phải điều trị và trong thời gian điều trị công ty trả cho B 50% tiền lương là 300 ngàn đồng. Trong trường hợp này thu nhập thực tế của B mỗi tháng bị giảm sút 300 ngàn đồng.

Ví dụ 3: C là công chức có thu nhập hàng tháng ổn định 500 ngàn đồng. Do sức khoẻ bị xâm phạm, C phải điều trị và trong thời gian điều trị cơ quan vẫn trả đủ các khoản thu nhập cho C. Trong trường hợp này thu nhập thực tế của C không bị mất.

1.3. Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.

a) Chi phí hợp lý cho người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị bao gồm: tiền tàu, xe đi lại, tiền thuê nhà trọ theo giá trung bình ở địa phương nơi thực hiện việc chi phí (nếu có) cho một trong những người chăm sóc cho người bị thiệt hại trong thời gian điều trị do cần thiết hoặc theo yêu cầu của cơ sở y tế.

b) Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị được xác định như sau:
- Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại có thu nhập thực tế ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người đó phải đi chăm sóc người bị thiệt hại nhân với thời gian chăm sóc để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất.
- Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại có làm việc và hàng tháng có thu nhập ổn định, nhưng có mức thu nhập khác nhau thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề (nếu chưa đủ 6 tháng thì của tất cả các tháng) trước khi người đó phải đi chăm sóc người bị thiệt hại nhân với thời gian chăm sóc để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất.
- Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại không có việc làm hoặc có tháng làm việc, có tháng không và do đó không có thu nhập ổn định thì được hưởng tiền công chăm sóc bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú.
- Nếu trong thời gian chăm sóc người bị thiệt hại, người chăm sóc vẫn được cơ quan, người sử dụng lao động trả lương, trả tiền công lao động theo quy định của pháp luật lao động, bảo hiểm xã hội thì họ không bị mất thu nhập thực tế và do đó không được bồi thường.
1.4. Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.
a) Chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại bao gồm: chi phí hợp lý hàng tháng cho việc nuôi dưỡng, điều trị người bị thiệt hại và chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại.
b) Chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại được tính bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú. Về nguyên tắc, chỉ tính bồi thường thiệt hại cho một người chăm sóc người bị thiệt hại do mất khả năng lao động.
1.5. Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm.

a) Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm được bồi thường cho chính người bị thiệt hại.

b) Trong mọi trường hợp, khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Cần căn cứ vào hướng dẫn tại điểm b tiểu mục 1.1 mục 1 Phần I Nghị quyết này để xác định mức độ tổn thất về tinh thần của người bị thiệt hại. Việc xác định mức độ tổn thất về tinh thần cần căn cứ vào sự ảnh hưởng đến nghề nghiệp, thẩm mỹ, giao tiếp xã hội, sinh hoạt gia đình và cá nhân.

c) Mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại trước hết do các bên thoả thuận. Nếu không thoả thuận được, thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, nhưng tối đa không quá 30 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Hành vi hủy hoại tài sản của người khác thì cấu thành tội gì ?

4. Gây tai nạn phải chịu trách nhiệm gì ?

Tôi điều khiển xe máy trên làn dành cho xe máy nhưng với vận tốc 60km/h va chạm với người đi bộ trèo rào sang đường hậu quả làm người đi bộ gãy tay và ảnh hưởng đến não và hệ thần kinh. Chi phí điều trị khoảng 12 triệu. Cho tôi hỏi tôi phải có trách nhiệm như nào với người đi bộ và hình thức xử phạt như nào đối với tôi. Đoạn đường đó xe gắn máy được phép chạy 50km/h ?
Tôi xin cảm ơn.

>> Luật Minh Khuê tư vấn pháp luật giao thông gọi: 1900.0159

Trả lời:

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì đoạn đường này được chạy với tốc độ 50 km/h nhưng thực tế bạn lại chạy với tốc độ 60 km/h và gây ra tai nạn cho người trèo rào sang đường nhưng bạn lại không nói rõ tỷ lệ thương tật của họ là bao nhiêu phần trăm do đó chúng tôi chưa thể trao đổi chính xác với bạn được. Tuy nhiên chúng tôi vẫn sẽ trao đổi với bạn như sau:

- Trường hợp 1: Nếu người đó không có tỷ lệ thương tật hoặc có nhưng tỷ lệ thương tật của họ là dưới 31% thì bạn sẽ phải chịu trách nhiệm hành chính theo quy định của nghij đinh 100/2019/NĐ-CP

- Trường hợp 2: Nếu người đó có tỷ lệ thương tật với tỷ lệ thương tật là từ 31% trở lên thì bạn phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Điều 260 Bộ luật hình sự số 2015 (Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2017), cụ thể:

Theo Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ như sau:

Trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 1 năm đến 5 năm: a) Làm chết người; b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 1 người mà tỷ lệ tổn thương có thể 61% trở lên; c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 2 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

Ngoài ra, theo quy định của Điều 584 Bộ luật dân sự số 2015 thì bạn còn có trách nhiệm bồi thường cho họ, cụ thể:

Điều 584: Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này

Việc bồi thường được thực hiện theo quy định tại Điều 590 Bộ luật Dân sự năm2015:

Điều 590. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm
1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;
d) Thiệt hại khác do luật quy định.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

>> Bài viết tham khảo thêm: Người gây tai nạn giao thông phải bồi thường như thế nào?

>> Xem thêm:  Gây ra tai nạn giao thông trong năm 2020 thì phải bồi thường những gì ?

5. Vấn đề trách nhiệm khi gây tai nạn ?

Chào luật sư! Xin giải đáp và tư vấn tình huống của cháu tôi như sau: Vào 19h00' ngày 29/9/2015, cháu tôi (sinh ngày 10/12/1997) trên đường đi làm về (đi xe máy, chưa có giấy phép lái xe) thì bị anh Nguyễn Văn A là bộ đội (đi xe máy ngược chiều) vượt xe ô tô lấn hết làn đường của cháu tôi và đâm trực diện vào xe máy của cháu tôi, làm cháu tôi ngã, đập đầu xuống đường, gãy chân, đa chấn thương, gây tử vong ngày hôm sau.
Còn anh Nguyễn Văn A chỉ bị dập phổi nhẹ. Vậy xin hỏi Luật sư tư vấn cháu tôi và anh Nguyễn Văn A có những sai vi phạm gì? trách nhiệm, bồi thường như thế nào?. Nếu anh Nguyễn Văn A say rượu tham gia giao thông đâm vào cháu tôi tử vong như nói ở trên thì chịu trách nhiệm như thế nào?
Xin cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn Luật dân sự gọi: 1900.0159

Trả lời:

Vì A điều khiển phương tiện giao thông gây tai nạn dẫn tới hậu quả chết người nên phải bồi thường theo quy định tại điều 590BLDS

Điều 590. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm
1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;
d) Thiệt hại khác do luật quy định.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Như vậy, anh A phải bồi thường thiệt hại bao gồm các khoản tiền theo quy định trên. Bao gồm các khoản tiền cho việc cứu chữa tại bệnh viện, chi phí cho việc mai táng. Vì cháu bạn không có nghĩa vụ cấp dưỡng với ai nên A không phải cấp dưỡng cho người thân của cháu bạn. Ngoài ra, A còn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cháu bạn, cụ thể là bố, mẹ của cháu bạn.

* Trách nhiệm của A nếu uống rượu mà gây tai nạn

Ngoài các trách nhiệm bồi thường về dân sự theo quy định trên, nếu A điều khiển xe trong tình trạng vượt quá mức nồng độ cồn cho phép thì A phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 260 Bộ luật hình sự

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật giao thông - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Khi nào phải phẫu thuật người chết trong vụ tai nạn giao thông ?