- 1. Thương lượng tập thể là gì?
- 2. Các trường hợp phải tiến hành thương lượng tập thể
- 2.1 Điều kiện để tiến hành thương lượng tập thể
- 2.2 Nội dung thương lượng tập thể
- 2.3 Trường hợp cần tiến hành thương lượng tập thể
- 3. Thương lượng tập thể có bắt buộc hay không?
- 4. Quy trình thực hiện thương lượng tập thể
1. Thương lượng tập thể là gì?
Trong quan hệ lao động, mặc dù mỗi cá nhân người lao động sẽ ký kết một bản hợp đồng lao động riêng lẻ khác nhau với người sử dụng lao động. Tuy nhiên, hoạt động lao động, công việc mà người lao động thực hiện trong quá trình lao động lại không phải là hoạt động mang tính đơn lẻ, cá nhân mà là hoạt động của cả một tập thể với sự tham gia, đóng góp với nhiều người lao động với nhau. Điều đó đã vô tình hình thành nên một tập thể người lao động. Tập thể người lao động là một nhóm người lao động có nhu cầu gắn kết với nhau để cải thiện vị thế phụ thuộc của người lao động với người sử dụng lao động, để đảm bảo cho sự bình đẳng trong việc thỏa thuận và thực hiện các quyền và lợi ích trong quan hệ lao động.
Đồng thời, việc người lao động gắn kết với nhau tạo lên sức mạnh tập thể to lớn nhằm hạn chế xu hướng lạm quyền của người sử dụng lao động. Do đó, trong quan hệ lao động, thường có sự xuất hiện của bên thứ ba đó là tập thể lao động hoặc đại diện tập thể lao động và quan hệ giữa tập thể lao động hoặc đại diện tập thể người lao động với người sử dụng lao động được coi là quan hệ lao động tập thể. Từ đó, quan hệ lao động tập thể có thể hiểu là quan hệ giữa tập thể lao động (hoặc đại diện tập thể lao động) và người sử dụng lao động (hoặc đại diện người sử dụng lao động). Và khi phát sinh các vấn đề tranh chấp trong quá trình thực hiện quan hệ lao động, các bên sẽ tiến hành thương lượng tập thể để thỏa thuận, thống nhất ý kiến, giải quyết vấn đề phát sinh.
Theo Điều 65 Bộ luật Lao động năm 2019, thương lượng tập thể có thể được hiểu là việc đàm phán, thỏa thuận giữa một bên là một hoặc nhiều tổ chức đại diện người lao động với một bên là một hoặc nhiều người sử dụng lao động hoặc tổ chức đại diện người sử dụng lao động nhằm xác lập điều kiện lao động, quy định về mối quan hệ giữa các bên và xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định.
Trong đó, tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở được hiểu là tổ chức được thành lập nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong quan hệ lao động thông qua thương lượng tập thể hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật. Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở bao gồm Công đoàn cơ sở và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp.
Ngoài ra, tại khoản 4 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019 cũng xác định rõ tổ chức đại diện người sử dụng lao động là tổ chức được thành lập hợp pháp, đại diện và bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động trong quan hệ lao động.
Như vậy, thương lượng tập thể theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 hẹp hơn so với Bộ luật Lao động năm 2012. Theo đó, thương lượng tập thể chỉ có thể diễn ra khi có tổ chức người đại diện người lao động tại cơ sở, trong khi Bộ luật Lao động năm 2012 cho phép thương lượng tập thể vẫn diễn ra tại doanh nghiệp khi chưa thành lập Công đoàn cơ sở.
Tùy vào phạm vi thương lượng tập thể, chủ thể đại diện hai bên tập thể lao động và người sử dụng lao động tham gia buổi thương lượng tập thể sẽ khác nhau. Số lượng người tham dự phiên họp thương lượng tập thể của mỗi bên sẽ do hai bên thỏa thuận với nhau. Cụ thể như sau:
- Thương lượng tập thể diễn ra trong phạm vi doanh nghiệp thì chủ thể thương lượng tập thể bên tập thể lao động là tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở; bên người sử dụng lao động là người sử dụng lao động hoặc người đại diện cho người sử dụng lao động.
- Thương lượng tập thể ở phạm vi ngành thì chủ thể thương lượng tập thể bên tập thể lao động là đại diện Ban chấp hành công đoàn ngành; còn bên phía người sử dụng lao động là đại diện của tổ chức đại diện người sử dụng lao động.
2. Các trường hợp phải tiến hành thương lượng tập thể
2.1 Điều kiện để tiến hành thương lượng tập thể
Thương lượng tập thể tại doanh nghiệp được diễn ra khi doanh nghiệp đó đã thành lập tổ chức Công đoàn cơ sở hoặc tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp. Công đoàn cơ sở hoặc tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp có quyền yêu cầu thương lượng tập thể khi đạt tỷ lệ thành viên tối thiểu trên tổng số người lao động trong doanh nghiệp theo quy định của Chính phủ (trong trường hợp chỉ có một tổ chức Công đoàn cơ sở hoặc tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp) hoặc tổ chức có số thành viên nhiều nhất trong doanh nghiệp (trường hợp doanh nghiệp có nhiều tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đáp ứng tỷ lệ thành viên tối thiểu trên tổng số người lao động trong doanh nghiệp theo quy định của Chính phủ) hoặc Công đoàn cơ sở kết hợp với tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp để đạt tỷ lệ thành viên tối thiểu trên tổng số người lao động trong doanh nghiệp theo quy định của Chính phủ (trường hợp doanh nghiệp có nhiều tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở mà không có tổ chức nào đáp ứng tỷ lệ tối thiểu). Công đoàn cơ sở hoặc tổ chức đại diện người lao động ở cơ sở hoặc liên minh giữa các tổ chức có quyền yêu cầu thương lượng tập thể gửi yêu cầu thương lượng tập thể với người sử dụng lao động hoặc ngược lại.
Theo đó, ngoài yếu tố phải có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở được thành lập thì tổ chức đó phải có quyền thương lượng tập thể mới được phép đề nghị thương lượng tập thể. Quyền yêu cầu thương lượng tập thể gắn liền với tỷ lệ đoàn viên mà tổ chức đó kết nạp được có đạt tỷ lệ nhất định (theo quy định của Chính phủ) hay không.
2.2 Nội dung thương lượng tập thể
Thương lượng tập thể được tiến hành nhằm đàm phán, thảo luận về các vấn đề liên quan giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động. Do đó, thương lượng tập thể có thể bao gồm một số nội dung như:
- Tiền lương, tiền thưởng, trợ cấp và nâng lương;
- Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, làm thêm giờ, nghỉ giữa ca;
- Bảo đảm việc làm đối với người lao động;
- Bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động; thực hiện nội quy lao động;
- Điều kiện, phương tiện hoạt động của tổ chức đại diện người lao động; mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và tổ chức đại diện người lao động;
- Cơ chế, phương thức phòng ngừa, giải quyết tranh chấp lao động;
- Bảo đảm bình đẳng giới, bảo vệ thai sản, nghỉ hằng năm; phòng, chống bạo lực và quấy rối tình dục tại nơi làm việc;
- Nội dung khác mà một hoặc các bên quan tâm.
2.3 Trường hợp cần tiến hành thương lượng tập thể
Trong một số trường hợp sau, thương lượng tập thể phải được tiến hành nhằm giải quyết vấn đề, cụ thể:
- Có vướng mắc, tranh chấp về các vấn đề về tiền lương, tiền thưởng, trợ cấp, nâng lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, làm thêm giờ, nghỉ giữa giờ,...
- Bảo đảm các vấn đề về việc làm đối với người lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động, thực hiện nội quy lao động hoặc các nội dung khác mà các bên quan tâm.
- Thương lượng tập thể để làm căn cứ xác lập các điều kiện lao động mới làm căn cứ để tiến hành ký kết thỏa ước lao động tập thể.
3. Thương lượng tập thể có bắt buộc hay không?
Khi có yêu cầu thương lượng tập thể của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở có quyền yêu cầu thương lượng tập thể hoặc yêu cầu của người sử dụng lao động thì bên nhận được yêu cầu không được từ chối việc thương lượng. Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu và nội dung thương lượng, các bên thỏa thuận về địa điểm, thời gian bắt đầu thương lượng. Và người sử dụng lao động có trách nhiệm bố trí thời gian, địa điểm và các điều kiện cần thiết để tổ chức các phiên họp thương lượng tập thể. Như vậy, thương lượng tập thể phải bắt buộc được thực hiện khi một trong hai bên chủ thể quan hệ lao động yêu cầu thương lượng.
Bên cạnh đó, nguyên tắc của thương lượng tập thể được quy định tại Điều 66 Bộ luật Lao động năm 2019. Theo đó, thương lượng tập thể được tiến hành theo nguyên tắc tự nguyện, hợp tác, thiện chí, bình đẳng, công khai và minh bạch. Như vậy, theo pháp luật lao động hiện hành thì hiện nay không có quy định về việc thương lượng tập thể bắt buộc phải tổ chức định kỳ.
4. Quy trình thực hiện thương lượng tập thể
Quy trình thương lượng tập thể được hiểu là các bước mà các bên tiến hành trong quá trình thương lượng tập thể. Theo quy định tại Điều 70, Bộ luật Lao động 2019 việc thương lượng tập thể được tiến hành theo quy trình như sau:
Bước 1: Đề xuất yêu cầu thương lượng tập thế
Trong quá trình thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ lao động, nếu các bên (tập thể lao động hoặc người sử dụng lao động) thấy cần phải thương lượng tập thế thì có quyền yêu cầu phía bên kia thương lượng tập thế. Bên nhận được yêu cầu không được từ chối việc thương lượng.
- Trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu thương lượng, các bên thoả thuận về thời gian, địa điểm bắt đầu phiên họp thương lượng. Người sử dụng lao động có trách nhiệm bố trí thời gian, địa điểm, các điều kiện cần thiết để tổ chức các phiên họp thương lượng tập thể. Thời gian bắt đầu thương lượng không được quá 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu thương lượng tập thể.
- Trường hợp một bên không thể tham gia phiên họp thương lượng đúng thời điểm bắt đầu thương lượng theo thoả thuận, thì có quyền đề nghị hoãn. Nhưng hai bên phải thực hiện thỏa thuận hoãn thương lượng trong thời gian bắt đầu thương lượng (không quá 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu thương lượng tập thể).
- Trường hợp một bên từ chối thương lượng hoặc không tiến hành thương lượng đúng thời hạn theo quy định thì bên kia có quyền tiến hành các thủ tục yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của pháp luật.
Bước 2: Chuẩn bị thương lượng tập thể
- Trong thời gian chuẩn bị tiến hành thương lượng tập thể, các bên cần phải có công tác chuẩn bị tài liệu, giấy tờ cho việc thương lượng tập thể.
+ Đối với người sử dụng lao động: Nếu có yêu cầu của bền đại diện người lao động thì trong thời hạn ít nhất 10 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, người sử dụng lao động phải cung cấp thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, trừ những bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ của người sử dụng lao động.
- Đối với tập thể lao động: Tổ chức đại diện lao động tại cơ sở có quyền tổ chức thảo luận, lấy ý kiến của tập thể lao động về đề xuất của người lao động với người sử dụng lao động và đề xuất của người sử dụng lao động với tập thể lao động. Hình thức lấy ý kiến người lao động có thể bằng cách lấy ý kiến trực tiếp của tập thể lao động hoặc gián tiếp thông qua hội nghị đại biểu của người lao động về đề xuất của người lao động với người sử dụng lao động và đề xuất của người sử dụng lao động với tập thể lao động.
- Thời gian thực hiện các phiên thương lượng tập thể không được quá 90 ngày kể từ ngày bắt đầu thương lượng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Thời gian thương lượng tập thể được tính vào khoảng thời gian làm việc có hưởng lương.
Bước 4: Tiến hành thương lượng tập thể
- Việc thương lượng tập thể được thực hiện thông qua phiên họp thương lượng tập thể. Phiên họp này sẽ do người sử dụng lao động chịu trách nhiệm tổ chức theo thời gian, đại điểm do hai bên đã thoả thuận. Trong phiên họp, đại diện của hai bên sẽ tiến hành đàm phán, thỏa thuận về những nội dung dự kiến trên cơ sở xem xét những yêu cầu và vấn đề mà mỗi bên đã đưa ra.
- Trong quá trình tiến hành thương lượng tập thể, nếu có yêu cầu của bền đại diện người lao động thì trong thời hạn ít nhất 10 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, người sử dụng lao động phải cung cấp thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, trừ những bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ của người sử dụng lao động.
- Về phía tập thể lao động, tổ chức đại diện lao động tại cơ sở có quyền tổ chức thảo luận, lấy ý kiến của tập thể lao động về nội dung, cách thức tiến hành và kết quả của quá trình thương lượng tập thể. Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở quyết định về thời gian, địa điểm và cách thức tiến hành thảo luận, lấy ý kiến người lao động nhưng không được làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh bình thường của doanh nghiệp. Và người sử dụng lao động không được gây khó khăn, cản trở hoặc can thiệp vào quá trình tổ chức đại diện người lao động thảo luận, lấy ý kiến người lao động.
- Việc thương lượng tập thể phải được lập thành biên bản, trong đó ghi rõ nội dung đã được các bên thống nhất và các nội dung mà hai bên còn có ý kiến khác nhau. Biên bản thương lượng tập thể phải có chữ ký của đại diện các bên thương lượng và người soạn thảo biên bản. Kể từ ngày kết thúc phiên họp thương lường, đại diện thương lượng của bên tập thể lao động phải phổ biến rộng rãi đồng thời công khai biên bản phiên họp cho tập thể lao động biết và lấy ý kiến biểu quyết của tập thể lao đông về nội dung đã thoả thuận.
Khi quá trình thương lượng tập thể kết thúc sẽ xảy ra 02 trường hợp như sau:
- Một là thương lượng tập thể không thành:
Thương lượng tập thể không thành khi thuộc một trong các trường hợp sau: một bên từ chối thương lượng hoặc không tiến hành thương lượng trong thời hạn bắt đầu thương lượng; Đã hết thời hạn 90 ngày kể từ ngày bắt đầu thương lượng mà các bên không đạt được thỏa thuận; Chưa hết thời hạn 90 ngày kể từ ngày bắt đầu thương lượng nhưng các bên cùng xác định và tuyên bố về việc thương lượng tập thể không đạt được thỏa thuận. Khi thương lượng tập thể không thành thì một trong hai bên có quyền tiếp tục đề nghị thương lượng hoặc tiến hành thủ tục giải quyết tranh chấp lao động và trong thời gian giải quyết tranh chấp lao đồng, tổ chức đại diện người lao động không được tổ chức đình công.
- Hai là thương lượng tập thể thành:
Khi hai bên chủ thể tiến hành thương lượng tập thể và đạt được thỏa thuận chung nhất về vấn đề phát sinh trước đó đồng nghĩa với việc thương lượng tập thể thành. Khi đó, các bên có thể tiến hành soạn thảo văn bản thỏa ước lao động tập thể và cả hai bên cùng ký vào văn bản đó.
Mọi vướng mắc chưa rõ hay có yêu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách vui lòng liên hệ với bộ phận tư vấn pháp luật trực tiếp thông qua tổng đài điện thoại, gọi ngay tới số 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng!