1. Những đóng góp của David Ricardo
David Ricardo (1772-1823) là con trai của một người Do Thái di dân làm nghề môi giới chứng khoán. Với kiến thức thương mại không nhiều, Ricardo đánh cược với số tiền khiêm tốn nhất để có được tài sản khá lớn bằng những đầu tư khôn ngoan vào chứng khoán và bất động sản. Năm 1799, trong khi đang nghỉ hè và buồn bực, ông đọc quyển Wealth of Nations của Adam Smith, và chẳng bao lâu sau nội dung quyển sách thu hút tâm trí của ông. Mười năm sau ông bắt đầu tranh luận các vấn đề kinh tế trên báo chí và các ẩn phẩm mỏng, một sự tiêu khiển sau này trở thành cuộc đeo đuổi tri thức tốn nhiều thời gian. Lý do nào bảo đảm vị trí của Ricardo trong lịch sử kinh tế học? Đó là khả năng của ông hình thành một hệ thống phân tích tổng quát mang lại những kết luận có ảnh hưởng bao quát dựa trên một số nguyên tắc tương đối cơ bản. “Hệ thống” của ông là một công trình bất hủ đối với tiến trình lập luận suy diễn. Theo phân tích của Ricardo, ba nguyên tắc đều bị chỉ trích, mỗi nguyên tắc đều vay mượn từ người khác. Ba vấn đề bị chỉ trích là (1) thuyết tiền thuê đất cổ điển, (2) nguyên tắc dân số của Malthus và (3) thuyết quỹ - lương.
Có thể nói Ricardo có tác động đối với sự định hướng thuyết kinh tế sau này nhiều hơn là Malthus. Nhưng trong tư cách một người đối kháng lý thuyết, mỗi người đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển hệ thống phân tích của người khác. Malthus nhận thấy sự liên kết trực tiếp, mật thiết giữa mức độ tiền lương chung và giá ngũ cốc. Ông lập luận ủng hộ Luật ngũ cốc vì ông cảm thấy nhập khẩu ngũ cốc tự do sẽ kéo giá ngũ cốc (và tiền lương) trong nước xuống và làm lạm phát đến nhanh hơn. Thế nhưng, đối với Ricardo, Luật ngũ cốc báo hiệu sự gia tăng trong tiền lương và giảm lợi nhuận, vì thế sự tích lũy Tư bản ít hơn và cũng là mục đích tăng trưởng kinh tế. Khi trả lời Malthus, Ricardo xây dựng một lập luận khéo léo nhất quanh thuyết giá trị lao động.
2. Thuyết giá trị lao động: Thực nghiệm hay phân tích?
Một vài quan niệm sai lầm trong lịch sử kinh tế học đến mức phổ biến về thuyết giá trị của Ricardo. Việc giải thích thuyết xoay quanh cách giải thích thuyết giá trị lao động dứt khoát không nhượng bộ. Thế nhưng có ít hay không có sự ủng hộ trong các tác phẩm của Ricardo về cách giải thích này. Thật trớ trêu, đây không phải là phê bình của Ricardo (như Malthus và Samuel Bailey) mà chính những môn đệ nhiệt tình của ông là những người chịu trách nhiệm về cách giải thích sai này. Chúng ta thích mô tả đặc điểm thuyết giá trị của Ricardo như một thuyết “phí tổn thật” nơi dụ sao lao động là yếu tố quan trọng (theo thực nghiệm) nhất.
Vấn đề chính do Ricardo đưa ra trong quyển Principles of Political Economy and Taxation là những thay đổi xảy ra trong phần chia thu nhập tương đối về đất đai, lao động và Tư bản ra sao và những thay đổi này có tác dụng gì đối với sự tích lũy Tư bản và tăng trưởng kinh tế. Xác định tiền thuê đất là một bộ phận không thể tách rời của vấn đề này, nhưng mỗi thuyết phân phối thu nhập phải căn cứ vào thuyết giá trị, và Ricardo trình bày để bổ sung thuyết giá trị của Smith để ông sử dụng riêng cho mình. Nhất là, Ricardo nhận thấy một số khiếm khuyết trong thuyết “giá trị tự nhiên” của Smith. Theo Smith, việc tăng giá của một yếu tố (như tiền lương) sẽ gia tăng giá hàng hóa do yếu tố ấy (lao động) tạo ra. Đối với Ricardo, đây là một phân tích hời hợt, nhất là nếu sự thay đổi trong giá trị phải nhiều hơn sự thay đổi mức giá trên danh nghĩa.
3. Sự cần thiết bổ sung cho thuyết giá trị lao động của Adam Smith
Ricardo cảm thấy nên bổ sung một số, thuyết giá trị lao động cung cấp giải thích tổng quát hoàn hảo nhất về giá tương đối và sự hạn chế của Smith trong thuyết lao động về “nền kinh tế nguyên thủy” là không cần thiết. Đối với Ricardo, mối quan hệ giữa giá trị và thời gian lao động tiêu dùng trong sản xuất thật dễ hiểu:
“Mỗi sự gia tăng số lượng lao động phải làm tăng giá trị của hàng hóa đó mà lao động thực hiện, khi mỗi sự giảm bớt sẽ hạ giá trị ấy xuống” (Works, 1, trang 13).
Mặc dù Ricardo không hề dao động quan điểm cơ bản, tuy nhiên ông cũng bổ sung một số đặc điểm cần thiết để làm cho thuyết thực tế hơn. Trong tiến trình này, thuyết giá trị của ông dừng lại như một thuyết lao động thuần túy. Nhưng Ricardo luôn lảng tránh những đặc điểm của chính mình trong phân tích và chính sách tiếp theo sau và sử dụng thuyết lao động đơn thuần để đi đến kết luận chung.
Ngoại lệ thứ nhất đối với quy tắc trên mà Ricardo cho phép là trong trường hợp hàng hóa không thể sản xuất. Ông cho rằng:
“Có một số hàng hóa mà giá trị của nó chỉ được xác định bằng tính khan hiếm. Không có lao động nào có thể gia tăng số lượng hàng hóa như thế, vì thế giá trị của chúng không thể hạ thấp bằng mức cung gia tăng”. Giá trị bức họa của Renoir hay một chai Lafitte-Rothschild năm 1929, theo lời Ricardo, “hoàn toàn phụ thuộc vào số lượng của lao động ban đầu cần thiết để tạo ra chúng, và thay đổi với của cải đang thay đổi và sở thích của những người khát khao sở hữu chúng” (Works, I, trang 12).
Về số lượng, ngoại lệ này không quan trọng đối với Ricardo, vì “Những hàng hóa này... hình thành một bộ phận rất nhỏ của đa số hàng hóa trao đổi hàng ngày trên thị trường”.
4. Vốn cố định và vốn lưu động
Đặc điểm quan trọng hơn trong thuyết giá trị lao động liên quan đến vai trò và tầm quan trọng của Tư bản, được xử lý như lao động “gián tiếp” hay “được thể hiện”. Ở đây Ricardo phân biệt giữa vốn cố định và vốn lưu động. Vốn lưu động “mau hỏng, cần phải tái tạo thường xuyên” trong khi vốn cố định “là vốn tiêu dùng chậm”. Giá trị vì thế gia tăng khi tỉ lệ vốn cố định so với vốn lưu động gia tăng và khi tính lâu bền của vốn gia tăng. Thực tế này được Ricardo chứng minh trong đoạn văn sau:
“Giả sử hai người mỗi người thuê 100 nhân công trong 1 năm để chế tạo hai cỗ máy, người khác cũng sử dụng cùng số nhân công như thế để trồng ngũ cốc, mỗi cỗ máy vào cuối năm sẽ có giá trị bằng với ngũ cốc, vì mỗi cỗ máy được cùng một số lượng lao động sản xuất ra. Giả sử một trong những chủ sở hữu của một trong hai cỗ máy này phải sử dụng máy với sự giúp đỡ của 100 người, để dệt vải, và chủ sở hữu cỗ máy còn lại cũng sử dụng máy mình cùng với sự giúp đỡ của 100 người để làm hàng cotton, trong khi người nông dân tiếp tục sử dụng 100 người trồng ngũ cốc như trước. Trong năm thứ hai, họ sử dụng số lao động như nhau, nhưng hàng hóa và máy móc cùng với người dệt vải và cũng với hàng hóa và máy móc của nhà sản xuất cotton, sẽ là kết quả lao động của 200 người được thuê trong 1 năm, hay đúng ra, là kết quả lao động của 100 người thuê trong 2 năm, trong khi ngũ cốc được sản xuất bởi lao động của 100 người trong 1 năm, do đó nếu ngũ cốc có giá trị 500 bảng Anh bằng máy móc và vải của người dệt vải cộng lại, phải bằng giá trị 1000 bảng Anh kể cả hàng cotton và máy móc của nhà sản xuất cotton, phải bằng hai lần giá trị ngũ cốc. Nhưng sẽ nhiều hơn hai lần giá trị ngũ cốc, vì lợi nhuận trên vốn của người dệt vải và nhà sản xuất cotton trong năm thứ nhất đã được cộng vào vốn của họ, trong khi lợi nhuận trên vốn của người nông dân đã dùng hết và thụ hưởng. Nếu tính mức độ khác nhau của tính lâu bền trong vốn của họ, vốn là như nhau, tính đến lượng thời gian trôi qua trước khi một tập hợp hàng hóa có thể mang ra thị trường, chúng sẽ có giá trị, không đúng theo tĩ lệ với số lượng lao động dành cho chúng... mà một điều gì đó nhiều hơn nữa để bù vào thời gian dài nhất phải trôi qua trước khi hàng có giá trị nhất mang ra thị trường”. (Works, I, trang 33-34).
Ví dụ của Ricardo rõ ràng minh họa rằng ông thừa nhận hai cách trong đó tiền vốn ảnh hưởng đến giá trị hàng hóa: (1) vốn tiêu dùng hết trong sản xuất hình thành phần cộng thêm vào giá trị sản phẩm, và (2) vốn sử dụng theo đơn vị thời gian phải được đền bù (ở lãi suất hiện hành). Sự thừa nhận này của Ricardo rằng thời gian cũng như lao động là yếu tố quan trọng của giá trị hình thành phần đóng góp thực sự cho kinh tế học, sau đó người ta cho rằng nếu có công trạng thì công trạng của ông cũng ít thôi.
5. Sự khác biệt giữa thuyết của Ricardo và thuyết của Adam Smith
Từ quan điểm phân tích, rõ ràng Ricardo dựa vào giá trị trên phí tổn thực của lao động và Tư bản. Thuyết của ông khác với thuyết của Smith ở chỗ loại trừ tiền thuê đất ra khỏi phí tổn. Nhưng xét từ quan điểm thực nghiệm, Ricardo cho rằng số lượng lao động tương đối sử dụng trong sản xuất là những yếu tố quyết định chính của giá trị tương đối. Trên mặt trận phương pháp luận, Ricardo chứng minh ông là nhà lập luận trừu tượng, suy diễn. Ông thích đặt nguyên tắc trong hệ thống phân tích của mình trong một biến số đơn độc, nổi tiếng hơn là trên nhiều biến số bé hơn có tác dụng mơ hồ. Đối với mục đích này, ông cảnh báo với bạn đọc (sau khi lưu ý tác dụng của vốn trên giá trị nêu trên):
“Trong phần tiếp theo sau của tác phẩm, mặc dù thỉnh thoảng tôi quy cho nguyên nhân biến đổi này (nghĩa là thời gian), tôi sẽ cân nhắc tất cả những thay đổi quan trọng diễn ra trong giá trị hàng hóa tương đối được tạo ra bởi số’ lượng lao động nhiều hay ít hơn theo yêu cầu từ thời điểm này sang thời điểm khác để tạo ra chúng” (Works, I, trang 36-37).
Đối với Ricardo, ít ra cũng ít có kẽ hở để bị một số lý thuyết gia hiện đại phê bình, ấy là vì không phát biểu rõ giả định làm nền tảng cho cấu trúc phân tích của mình.
Bất chấp tính chính xác của nó, thuyết giá trị của Ricardo chứa đựng một số khiếm khuyết. Thứ nhất, xử lý của ông về sự khác nhau giữa chất lượng lao động là không thỏa đáng. Ricardo giả định điều chỉnh tiền lương đối với sự khác nhau chất lượng lao động xảy ra trong thương trường và một khi đã xác định, thì các mức độ khác nhau sẽ ít thay đổi. Vì thứ nhất Ricardo tìm kiếm cách đánh giá giá trị thị trường, đây là một tranh luận vòng quanh. Thứ hai, sự loại trừ tiền thuê đất ra khỏi phí tổn có thể được chứng minh là đúng khi đất không có cách sử dụng thay thế (Ricardo cho rằng, phi hiện thực). Vả lại, thuyết giá trị Ricardo duy trì vai trò nhu cầu hạn chế ở một loại hàng hóa đặc biệt (không thể sản xuất). Dĩ nhiên điều này không thích hợp trong trường hợp nơi mà hàng hóa không phải là sản xuất ra phải chịu phí tổn sản xuất trung bình không đổi.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)