- 1. Tịch thu tài sản là gì? Ví dụ
- Ví dụ về tịch thu tài sản trong một số bản án điển hình
- 2. Quy định về tịch thu tài sản theo Bộ Luật Hình sự
- 2.1. Thẩm quyền tịch thu tài sản thuộc về cơ quan nào?
- 2.2. Thẩm quyền truy thu tiền do phạm tội mà có?
- 3. Phân biệt với một số quy định liên quan
- 3.1. Phân biệt với biện pháp tư pháp xử lý vật chứng
- 3.2. Khác biệt trong áp dụng đối với cá nhân và pháp nhân thương mại
- 4. Các câu hỏi thường gặp về tịch thu tài sản do phạm tội
- Tài sản của người thân có bị tịch thu không?
- Khi nào thì Tòa án quyết định tịch thu tài sản?
- Những tài sản nào sẽ bị tịch thu?
- Tịch thu tài sản có khác gì với bồi thường thiệt hại dân sự không?
- 5. Nguyên tắc xác định tài sản bị tịch thu
- 5.1. Các nhóm tội danh phổ biến áp dụng hình phạt tịch thu tài sản
- 5.2. Nguyên tắc xác định tài sản bị tịch thu và vấn đề tài sản đồng sở hữu
- 5.3. Quy trình thi hành án hình phạt tịch thu tài sản
- Kết luận
1. Tịch thu tài sản là gì? Ví dụ
Tịch thu tài sản là tước một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của người bị kết án để nộp vào ngân sách nhà nước. Tài sản đó có thể đang được người bị kết án sử dụng hoặc cũng có thể là tài sản mà họ đã cho người khác vay, mượn, thuê, giữ để sử dụng (kể cả để sửa chữa) hoặc đang cầm cố, thế chấp, đang gửi tiết kiệm hoặc tiền trong tài khoản ở ngân hàng, tài sản đứng tên người khác nhưng có đủ căn cứ chứng minh rằng của người phạm tội thì tài sản vẫn bị tịch thu.
Tuy nhiên, không phải người bị kết án về bất cứ tội phạm nào cũng bị áp dụng hình phạt tịch thu tài sản mà tịch thu tài sản chỉ được áp dụng đối với người bị kết án về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tham nhũng hoặc tội phạm khác do Bộ luật này quy định
Việc xử lý với tiền, vật trực tiếp liên quan đến tội phạm được giải quyết cụ thể:
Thứ nhất: Việc tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hoặc tịch thu tiêu hủy được áp dụng đối với công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội. Đây là những công cụ, phương tiện mà người phạm tội đã sử dụng vào việc thực hiện tội phạm, như: dao, súng, xe mô tô của người phạm tội sử dụng trong các vụ cướp tài sản, tiền mà người phạm tội sử dụng trong đánh bạc, đưa hối lộ mà có.
Vật hoặc tiền do phạm tội hoặc đổi do đổi chác, mua bán những thứ ấy mà có là những vật hoặc tiền có được do việc thực hiện tội phạm như tham ô, trộm cắp, cướp, lừa đảo hoặc do sự mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có.
Vật thuộc loại nhà nước cấm lưu hành là những vật mà người phạm tội sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội hoặc là đối tượng của việc thực hiện tội phạm, những vật này thuộc loại nhà nước cấm lưu hành như: Văn hóa phẩm đồi trụy, vũ khí quân dụng, ma túy, chất cháy, chất nổ, chất độc, chất phóng xạ.
Thứ hai: Đối với vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép không tịch thu mà trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp. Có nghĩa là những vật, tiền này là của người khác và xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, đã bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép. Trong trường hợp không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Thứ ba: Trường hợp vật, tiền thuộc tài sản của người khác nếu người này có lỗi trong việc để cho người khác sử dụng vào việc thực hiện tội phạm thì có thể bị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Trường hợp này luật quy định “có thể bị tịch thu”, được hiểu tùy vào từng vụ án, với loại tiền hoặc vật cụ thể Tòa án quyết định biện pháp xử lý có tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hay không. Khi quyết định vấn đề này, Tòa án cần nghiên cứu kỹ hình thức lỗi của người có tiền hoặc vật để người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm.
Nếu chủ sở hữu là người có lỗi cố ý hoặc vô ý thì ngoài việc có thể bị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước, hành vi của chủ sở hữu có thể là đồng phạm với vai trò giúp sức (nếu lỗi cố ý) hoặc có thể cấu thành một tội phạm độc lập khác (nếu là lỗi vô ý). Ví dụ: A biết B mượn súng (loại súng tự chế) để đi cướp tài sản nhưng A vẫn cho B mượn súng để đi cướp ngân hàng C. Khi thực hiện hành vi cướp ngân hàng C thì B bị bắt giữ, trường hợp này ngoài việc khẩu súng A cho B mượn sẽ bị tịch thu, A còn bị xử lý trách nhiệm hình sự là đồng phạm với B về tội Cướp tài sản với vai trò là người giúp sức.
Ví dụ về tịch thu tài sản trong một số bản án điển hình
Vụ án Tập đoàn Vạn Thịnh Phát (Trương Mỹ Lan): Vụ án này là một minh chứng điển hình cho sự phức tạp và quy mô khổng lồ của việc thu hồi tài sản trong các vụ án kinh tế, tham nhũng. Các cơ quan tố tụng đã áp dụng nhiều biện pháp đồng bộ như kê biên, phong tỏa hàng trăm bất động sản, tài sản và các khoản tiền liên quan đến bị cáo và các đồng phạm. Việc xử lý tài sản trong vụ án này không chỉ đơn thuần là tịch thu để sung công quỹ mà còn bao gồm cả việc xác định và phân chia tài sản để đảm bảo nghĩa vụ bồi hoàn thiệt hại cho Ngân hàng SCB và các bị hại khác. Điều này thể hiện sự kết hợp chặt chẽ giữa các chế tài hình sự và dân sự, với mục tiêu cao nhất là thu hồi tài sản đã bị chiếm đoạt.
Vụ án Việt Á và các vụ án kinh tế, tham nhũng khác: Vụ án Việt Á, với hành vi nâng khống giá kit test gây thiệt hại đặc biệt lớn cho Nhà nước, là một ví dụ điển hình về tội phạm trục lợi chính sách. Trong các vụ án này, bên cạnh việc áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo chủ mưu, các Tòa án đã đặc biệt chú trọng quyết định tịch thu tài sản do phạm tội mà có, áp dụng các biện pháp kê biên và các hình phạt bổ sung nhằm đảm bảo thu hồi triệt để tài sản của Nhà nước đã bị chiếm đoạt. Việc chú trọng vào khâu thu hồi tài sản cho thấy một sự thay đổi chiến lược trong công tác phòng chống tham nhũng, chuyển từ việc chỉ tập trung vào trừng phạt cá nhân sang mục tiêu "thu hồi bằng được" tài sản bất chính, qua đó nâng cao hiệu quả thực tế của công tác đấu tranh.
2. Quy định về tịch thu tài sản theo Bộ Luật Hình sự
Hình phạt tịch thu tài sản được định nghĩa rõ ràng tại Điều 45 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi năm 2017 và năm 2025, cụ thể:
Điều 45. Tịch thu tài sản
Tịch thu tài sản là tước một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của người bị kết án để nộp vào ngân sách nhà nước.
Tịch thu tài sản chỉ được áp dụng đối với người bị kết án về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tham nhũng hoặc tội phạm khác do Bộ luật này quy định.
Khi tịch thu toàn bộ tài sản vẫn để cho người bị kết án và gia đình họ có điều kiện sinh sống.
Theo đó, tịch thu tài sản là một biện pháp cưỡng chế của Nhà nước, tước bỏ quyền sở hữu tài sản của người phạm tội. Tài sản bị tịch thu có thể tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau, bao gồm hiện vật, tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, quỹ tín dụng, trái phiếu, tín phiếu, bất động sản, động sản,.... miễn là có đủ căn cứ chứng minh tài sản đó thuộc quyền sở hữu của người bị kết án.
Hình phạt tịch thu tài sản không phải là hình phạt chính mà là một trong những hình phạt bổ sung được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 32 Bộ luật Hình sự 2015. Mục đích của hình phạt này là nhằm làm suy yếu điều kiện kinh tế của người phạm tội, qua đó ngăn chặn khả năng họ tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội trong tương lai. Đồng thời, nó còn có mục tiêu thu hồi triệt để các khoản lợi bất chính mà người phạm tội có được từ hành vi của mình. Việc áp dụng hình phạt này chỉ giới hạn đối với các tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, cũng như một số tội danh cụ thể như tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy hoặc tham nhũng. Một nguyên tắc quan trọng và mang tính nhân đạo được pháp luật Việt Nam quy định là khi tuyên tịch thu toàn bộ tài sản, Tòa án vẫn phải dành lại cho người bị kết án và gia đình họ một khoản tài sản nhất định để đảm bảo các điều kiện sinh sống tối thiểu.
Khi tài sản bị tịch thu thuộc sở hữu của người bị kết án. Tức là: Tài sản đó có thể đang được người bị kết án sử dụng hoặc cũng có thể là tài sản mà họ đã cho người khác vay, mượn, thuê, giữ để sử dụng (kể cả để sửa chữa) hoặc đang cầm cố, thế chấp, (theo quy định của Bộ luật dân sự hiện hành) ... nhưng có đủ căn cứ chứng minh rằng của người phạm tội thì tài sản vẫn bị tịch thu.
Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt tịch thu tài sản thì biện pháp này chỉ được áp dụng đối với người bị kết án về về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tham nhũng hoặc tội phạm khác do Bộ luật này quy định.
Chúng ta cần phải hiểu là hình phạt bổ sung này chỉ áp dụng với những trường hợp người phạm tội có thu nhập bất chính, có tài sản là do hành vi phạm tội mà có hoặc trong trường hợp nhận thấy có căn cứ khẳng định rằng nếu không tịch thu tài sản thì người đó sẽ sử dụng tài sản đó vào việc thực hiện tội phạm hoặc sẽ tiếp tục thực hiện tội phạm.
Ví dụ: Trong phần các tội phạm, tịch thu tài sản có thể được quy định riêng như đối với các tội như tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia hoặc được quy định là chế tài lựa chọn cùng với phạt tiền (khi là hình phạt bổ sung) như đối với một số tội xâm phạm sở hữu, trật tự quản lý kinh tế, tội mua bán người, tội phạm về ma túy… Cách thức quy định tịch thu là tài sản cùng với sự phát triển trong chế tài lựa chọn tạo khả năng pháp lý cho việc giải quyết của tòa án phù hợp với từng trường hợp phạm tội cụ thể. Điều luật cũng quy định rằng khi tịch thu toàn bộ tài sản vẫn để cho người bị kết án và gia đình họ có điều kiện sinh sống.
2.1. Thẩm quyền tịch thu tài sản thuộc về cơ quan nào?
Thẩm quyền tịch thu tài sản phụ thuộc vào bản chất của việc tịch thu, cụ thể là đó là một hình phạt bổ sung trong vụ án hình sự hay một biện pháp xử lý tang vật vi phạm. Dưới đây là phân tích chi tiết về thẩm quyền này trong các bối cảnh khác nhau:
Trong tố tụng hình sự:
Thứ nhất, thẩm quyền áp dụng hình phạt bổ sung tịch thu tài sản. Hình phạt Tịch thu tài sản là việc tước một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của người bị kết án để sung vào ngân sách nhà nước. Thẩm quyền quyết định áp dụng hình phạt này thuộc về Tòa án.
Hình phạt này chỉ được áp dụng đối với cá nhân người phạm tội và chỉ áp dụng cho các tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, đặc biệt là các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tham nhũng hoặc các tội phạm khác theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Thứ hai, thẩm quyền áp dụng biện pháp tư pháp Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm. Đây là biện pháp tư pháp, không phải là hình phạt. Thẩm quyền áp dụng thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, bao gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án.
Việc tịch thu này được áp dụng đối với:
- Công cụ, phương tiện được dùng vào việc phạm tội.
- Vật hoặc tiền có được do phạm tội hoặc từ việc mua bán, đổi chác những thứ có được từ tội phạm; hoặc các khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội.
- Vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành.
Đối với các biện pháp cưỡng chế để đảm bảo thi hành án như kê biên tài sản, thẩm quyền ra lệnh thuộc về Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án hoặc Hội đồng xét xử.
Trong xử lý vi phạm hành chính: Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm là một hình thức xử phạt bổ sung. Người có thẩm quyền xử phạt là người có quyền ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. Ví dụ, Trưởng Công an cấp xã có thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.
Trong trường hợp cần xác định giá trị tài sản để tịch thu, người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ sẽ thành lập Hội đồng định giá. Chủ tịch Hội đồng sẽ là người đã ra quyết định tạm giữ tang vật vi phạm, cùng với đại diện cơ quan tài chính và các cơ quan chuyên môn khác.
2.2. Thẩm quyền truy thu tiền do phạm tội mà có?
"Truy thu tiền do phạm tội mà có" (thu hồi tiền có được do phạm tội) là một biện pháp pháp lý quan trọng nhằm thu hồi các tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp để sung vào ngân sách nhà nước hoặc trả lại cho người bị hại. Đây là một chế định khác biệt so với hình phạt bổ sung Tịch thu tài sản đã đề cập trước đó.
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì: "Tiền do phạm tội mà có" là những vật, tiền mà người phạm tội có được ngay sau khi thực hiện hành vi phạm tội hoặc sau khi định đoạt những tài sản đó. Biện pháp thu hồi các khoản tiền này được quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, nằm trong nhóm các biện pháp tư pháp, không phải là hình phạt bổ sung.
Theo các quy định này, việc thu hồi được áp dụng đối với:
- Vật, tiền do phạm tội mà có, bao gồm cả các khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội.
- Vật hoặc tiền có được từ việc mua bán, đổi chác những thứ có được từ tội phạm.
- Tiền hoặc tài sản là vật chứng trong vụ án hình sự.
Thẩm quyền và quy trình thi hành:
Thẩm quyền áp dụng: Trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) có thẩm quyền tịch thu vật, tiền liên quan đến tội phạm.
Tuy nhiên, việc thi hành án đối với các khoản tiền này thuộc thẩm quyền của Cơ quan Thi hành án dân sự (THADS). Theo quy định, Thủ trưởng Cơ quan THADS có thẩm quyền chủ động ra quyết định thi hành án đối với các khoản thu lợi bất chính và các khoản thu khác cho Nhà nước, bao gồm cả các khoản bồi thường cho Nhà nước trong các vụ án kinh tế, tham nhũng.
Quy trình thi hành: Quy trình thi hành án đối với tiền, tài sản thu lợi bất chính được thực hiện theo quy trình thi hành án dân sự. Một số điểm đáng lưu ý trong quy trình này:
- Ra quyết định thi hành án chủ động: Thủ trưởng cơ quan THADS sẽ chủ động ra quyết định thi hành án trong vòng 5 ngày kể từ ngày nhận được bản án, quyết định của Tòa án.
- Thu hồi tiền: Trong quá trình thi hành, Cơ quan THADS có thể thực hiện các biện pháp cưỡng chế để khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án.
- Xử lý tài sản: Tiền hoặc tài sản do phạm tội mà có sẽ bị tịch thu và sung vào ngân sách nhà nước.
Tuy nhiên, cần phân biệt rõ với tài sản bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép, vì những tài sản này sẽ không bị tịch thu mà được trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp.
3. Phân biệt với một số quy định liên quan
3.1. Phân biệt với biện pháp tư pháp xử lý vật chứng
Trong thực tiễn tố tụng hình sự, một sự nhầm lẫn phổ biến là giữa hình phạt tịch thu tài sản và biện pháp tư pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm. Mặc dù cả hai đều dẫn đến việc tài sản bị sung công quỹ nhà nước, nhưng bản chất pháp lý, mục đích, đối tượng và cơ sở pháp luật của chúng hoàn toàn khác nhau. Việc phân biệt rõ ràng hai chế định này là nền tảng để Tòa án ra phán quyết chính xác và đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Hình phạt tịch thu tài sản là một hình phạt bổ sung đối với người phạm tội, được quy định tại Điều 45 Bộ luật Hình sự. Nó nhắm vào toàn bộ tài sản của người bị kết án, không nhất thiết phải là tài sản có được từ hành vi phạm tội. Trong khi đó, biện pháp tịch thu vật, tiền liên quan đến tội phạm là một biện pháp tư pháp được quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự, nhắm vào chính các vật chứng của vụ án như công cụ, phương tiện phạm tội hoặc vật, tiền do phạm tội mà có. Mục đích của biện pháp tư pháp này là loại bỏ những thứ được sử dụng hoặc có được một cách bất hợp pháp, qua đó triệt tiêu điều kiện và lợi ích của hành vi phạm tội.
Bảng so sánh sau đây sẽ làm rõ hơn sự khác biệt giữa hai chế định này:
| Tiêu chí phân biệt | Tịch thu tài sản (Hình phạt bổ sung) | Tịch thu vật, tiền liên quan đến tội phạm (Biện pháp tư pháp) |
| Bản chất pháp lý | Là một hình phạt bổ sung | Là một biện pháp tư pháp |
| Mục đích | Trừng phạt người phạm tội, làm suy yếu điều kiện kinh tế | Khắc phục hậu quả, loại bỏ công cụ và lợi ích bất hợp pháp |
| Đối tượng áp dụng | Người bị kết án về tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng | Vật, tiền liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội, không phân biệt tính chất, mức độ |
| Tài sản bị tịch thu | Tài sản thuộc sở hữu của người bị kết án, không liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội | Công cụ, phương tiện phạm tội; vật, tiền do phạm tội mà có; vật cấm lưu hành |
| Cơ sở pháp luật | Điều 45 Bộ luật Hình sự 2015 | Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 |
| Thẩm quyền quyết định | Tòa án quyết định trong bản án | Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án |
| Cách thức áp dụng | Áp dụng bổ sung cho hình phạt chính | Áp dụng độc lập khi có hành vi phạm tội |
3.2. Khác biệt trong áp dụng đối với cá nhân và pháp nhân thương mại
Hình phạt tịch thu tài sản, vốn là một chế định truyền thống đối với cá nhân, đã có những điểm mới trong việc áp dụng đối với pháp nhân thương mại theo Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017.
Đối với cá nhân, hình phạt này là một chế tài bổ sung thông thường, được áp dụng khi cá nhân phạm các tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Phạm vi áp dụng rộng rãi, hướng đến tổng tài sản của người phạm tội.
Đối với pháp nhân thương mại, Luật Thi hành án hình sự 2019 đã lần đầu tiên bổ sung các quy định về việc thi hành án hình sự đối với loại chủ thể này, trong đó có cả hình phạt tịch thu tài sản. Tuy nhiên, việc áp dụng chế tài này đối với pháp nhân thương mại lại có một sự khác biệt đáng kể so với cá nhân. Theo Điều 81a Bộ luật Hình sự, hình phạt tịch thu tài sản chỉ được áp dụng đối với pháp nhân thương mại "được thành lập chỉ nhằm thực hiện tội phạm".
Việc giới hạn phạm vi áp dụng này cho thấy một cách tiếp cận thận trọng và có tính chiến lược của các nhà lập pháp. Thay vì trừng phạt toàn bộ một tổ chức có thể có các hoạt động kinh doanh hợp pháp, Nhà nước tập trung vào việc triệt tiêu những "vỏ bọc" doanh nghiệp được tạo ra với mục đích duy nhất là thực hiện các hành vi phạm tội. Điều này thể hiện sự cân bằng giữa mục tiêu trừng phạt nghiêm minh và bảo vệ nền kinh tế. Tịch thu tài sản của một doanh nghiệp đang hoạt động bình thường có thể gây ra những hệ lụy tiêu cực lớn, ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động, các đối tác kinh doanh và cả an sinh xã hội. Do đó, việc tập trung vào các "tổ chức tội phạm" trá hình dưới danh nghĩa pháp nhân thương mại là một hướng đi hiệu quả, đảm bảo tính răn đe mà không làm ảnh hưởng xấu đến các thực thể kinh tế hợp pháp khác.
4. Các câu hỏi thường gặp về tịch thu tài sản do phạm tội
Trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự liên quan đến hình phạt tịch thu tài sản, Luật Minh Khuê nhận thấy có một số câu hỏi thường gặp phổ biên sau:
Tài sản của người thân có bị tịch thu không?
Theo nguyên tắc pháp luật, hình phạt tịch thu tài sản chỉ áp dụng đối với tài sản thuộc sở hữu của người bị kết án. Do đó, tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của người thân (vợ/chồng, con cái, cha mẹ) không liên quan đến hành vi phạm tội sẽ không bị tịch thu. Tuy nhiên, nếu cơ quan chức năng có đủ căn cứ chứng minh rằng tài sản đó, dù do người thân đứng tên nhưng thực chất là tài sản của người phạm tội hoặc có được từ hành vi phạm tội, thì tài sản đó vẫn có thể bị kê biên và thu hồi.
Khi nào thì Tòa án quyết định tịch thu tài sản?
Tòa án quyết định tịch thu tài sản khi người phạm tội bị kết án về các tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Đồng thời, hình phạt này cũng được áp dụng cho các tội phạm cụ thể như tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy và tham nhũng. Quyết định tịch thu được ghi nhận trong bản án và chỉ có hiệu lực thi hành khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Những tài sản nào sẽ bị tịch thu?
Các tài sản có thể bị tịch thu bao gồm tài sản thuộc quyền sở hữu của người phạm tội, bao gồm bất động sản (nhà đất), động sản (xe cộ, đồ trang sức), tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và các loại giấy tờ có giá. Đặc biệt, các tài sản có được từ hành vi phạm tội hoặc các khoản thu lợi bất chính từ hành vi đó cũng sẽ bị tịch thu theo biện pháp tư pháp.
Tịch thu tài sản có khác gì với bồi thường thiệt hại dân sự không?
Hai chế định này khác nhau hoàn toàn về bản chất và mục đích. Tịch thu tài sản là một hình phạt hoặc biện pháp tư pháp của Nhà nước nhằm sung công quỹ nhà nước, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật đối với hành vi vi phạm xã hội, và không phụ thuộc vào yêu cầu của bị hại. Ngược lại, bồi thường thiệt hại dân sự là một nghĩa vụ dân sự, nhằm trả lại tài sản hoặc bù đắp thiệt hại cho bị hại và các bên có liên quan, việc thi hành phụ thuộc vào yêu cầu của họ và được giải quyết theo quy định của pháp luật dân sự. Sự khác biệt này cho thấy tịch thu tài sản không chỉ là một vấn đề dân sự mà là một chế tài của pháp luật hình sự, chống lại hành vi vi phạm xã hội chứ không chỉ là hành vi xâm phạm quyền lợi cá nhân.
5. Nguyên tắc xác định tài sản bị tịch thu
Việc áp dụng hình phạt tịch thu tài sản trên thực tế còn nhiều hạn chế. Trong quá trình xử lý một số vụ án hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện nguồn tài sản rất lớn của người phạm tội có dấu hiệu bất minh; nhưng không chứng minh được nguồn gốc gắn với tội phạm, cơ quan tiến hành tố tụng không thể tịch thu, thu hồi. Đối với các vụ án đã được xử lý, hiệu quả công tác thu hồi tài sản không cao. Nguyên nhân phần lớn là do người phạm tội đã nhanh chóng thực hiện việc rửa tiền, tẩu tán tiền, tài sản do phạm tội mà có; quá trình tổ chức thu hồi tài sản cũng gặp nhiều vướng mắc, bất cập. Chính vì vậy mà hiện nay, cơ chế “tịch thu tài sản không qua kết tội” đang được nghiên cứu để áp dụng nhiều hơn.
Ngoài ra, các bộ ngành liên quan cũng đang có những hoạt động ban đầu trong việc “Nghiên cứu đề xuất xây dựng quy định biện pháp tịch thu tài sản không thông qua thủ tục kết tội, buộc đối tượng tình nghi phải chứng minh nguồn gốc hợp pháp của tài sản và đề xuất sửa đổi quy định có liên quan trong Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự và Luật Phòng, chống tham nhũng”.
5.1. Các nhóm tội danh phổ biến áp dụng hình phạt tịch thu tài sản
Hình phạt tịch thu tài sản chỉ được áp dụng cho các tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cao, thường là những tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Các nhóm tội danh điển hình có thể bị áp dụng hình phạt này bao gồm:
- Các tội về xâm phạm an ninh quốc gia: Điều 122 Bộ luật Hình sự 2015, Tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật, Tội gián điệp.
- Các tội về ma túy: Các tội liên quan đến sản xuất, mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy thường có khung hình phạt rất nặng, đi kèm hình phạt bổ sung là tịch thu tài sản.
- Các tội về tham nhũng và chức vụ: Các tội như Tội tham ô tài sản, Tội nhận hối lộ, Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ. Việc áp dụng hình phạt này nhằm thu hồi triệt để tài sản công đã bị chiếm đoạt.
- Các tội về kinh tế và các tội khác: Bao gồm các tội danh nghiêm trọng như Tội buôn lậu, Tội trốn thuế, Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174), Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175). Đặc biệt, hình phạt tịch thu tài sản thường chỉ áp dụng cho các khung hình phạt nặng nhất trong cùng một điều luật, ví dụ khoản 5 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Các nhóm tội danh này có một đặc điểm chung: chúng thường liên quan đến động cơ lợi ích kinh tế hoặc có khả năng gây thiệt hại đặc biệt lớn về tài chính cho Nhà nước và xã hội. Điều này thể hiện một tư tưởng lập pháp nhất quán, đó là hình phạt tịch thu tài sản không chỉ là sự trừng phạt mà còn là một biện pháp để "đánh vào" động cơ kinh tế của tội phạm, làm suy yếu khả năng tài chính và thu hồi những khoản lợi nhuận bất chính.
5.2. Nguyên tắc xác định tài sản bị tịch thu và vấn đề tài sản đồng sở hữu
Khi tuyên tịch thu tài sản, Tòa án phải tuân thủ hai nguyên tắc cơ bản: (1) Tài sản phải thuộc sở hữu của người bị kết án và (2) Tài sản đó có được từ hành vi phạm tội hoặc lợi nhuận bất chính từ hành vi đó. Tài sản bị tịch thu có thể là bất động sản, động sản, tiền mặt, tiền gửi ngân hàng...
Một trong những vấn đề phức tạp nhất trong thực tiễn là xử lý tài sản đồng sở hữu. Các tài liệu nghiên cứu đã chỉ ra một mâu thuẫn rõ ràng: nếu tịch thu toàn bộ tài sản sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người đồng sở hữu khác không liên quan đến tội phạm; ngược lại, nếu trả lại toàn bộ sẽ không đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Để giải quyết vấn đề này, Tòa án đã áp dụng một hướng đi phù hợp với thực tiễn. Cụ thể, trong trường hợp tài sản là tài sản chung (ví dụ: tài sản của vợ chồng), Tòa án sẽ xác định phần sở hữu của người phạm tội và chỉ tịch thu phần đó. Ví dụ, trong một vụ án, chiếc xe ô tô là tài sản chung của vợ chồng bị cáo được sử dụng để phạm tội. Tòa án phúc thẩm đã chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát, tuyên tịch thu một nửa giá trị chiếc xe để sung công quỹ và trả lại một nửa giá trị còn lại cho người vợ không liên quan. Giải pháp này thể hiện sự linh hoạt và tính nhân văn của pháp luật, nhằm cân bằng giữa mục tiêu trừng phạt và bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của người vô tội. Đây là một điểm tiến bộ quan trọng trong thực tiễn xét xử, tạo ra tiền lệ cho các vụ án tương tự.
5.3. Quy trình thi hành án hình phạt tịch thu tài sản
Quy trình thi hành án hình phạt tịch thu tài sản là một quy trình chặt chẽ, đòi hỏi sự phối hợp giữa Tòa án và Cơ quan Thi hành án dân sự (THADS).
Vai trò của Tòa án và Cơ quan Thi hành án dân sự: Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền ra phán quyết về hình phạt tịch thu tài sản, được ghi nhận trong bản án đã có hiệu lực pháp luật. Cơ quan Thi hành án dân sự, cụ thể là Chấp hành viên, là người có trách nhiệm chính trong việc tổ chức thi hành bản án đó. Đối với các khoản thu cho Nhà nước như tịch thu tài sản, việc thi hành án được thực hiện một cách chủ động, không cần đơn yêu cầu.
Trình tự, thủ tục thi hành án:
- Nhận và ra quyết định thi hành án: Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ khi nhận được bản án có hiệu lực, Cơ quan THADS phải ra quyết định thi hành án và phân công Chấp hành viên.
- Thông báo và thời hạn tự nguyện thi hành án: Chấp hành viên có trách nhiệm thông báo cho người phải thi hành án và các bên liên quan. Người phải thi hành án có thời hạn 10 ngày để tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình.
- Xác minh điều kiện thi hành án và cưỡng chế: Nếu người phải thi hành án không tự nguyện, Chấp hành viên sẽ tiến hành xác minh điều kiện tài sản của họ. Sau khi xác minh, nếu đủ điều kiện, Chấp hành viên sẽ ra quyết định cưỡng chế thi hành án bằng các biện pháp như kê biên, phong tỏa tài khoản ngân hàng hoặc khấu trừ tiền lương.
- Xử lý tài sản: Tài sản đã bị kê biên sẽ được định giá và bán đấu giá để nộp vào ngân sách nhà nước. Trong trường hợp tài sản đồng sở hữu, nếu các bên không thỏa thuận được, Chấp hành viên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tố tụng và thi hành án là yếu tố quyết định hiệu quả của việc thu hồi tài sản. Trong các vụ án kinh tế, tham nhũng quy mô lớn, việc xác minh, kê biên và xử lý tài sản là vô cùng phức tạp. Điều này đặt ra yêu cầu phải có cơ chế phối hợp liên ngành mạnh mẽ hơn ngay từ giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử, nhằm đảm bảo các phán quyết của Tòa án được thực thi triệt để và tài sản không bị tẩu tán.
Kết luận
Hình phạt tịch thu tài sản là một chế tài nghiêm khắc và có vai trò không thể thiếu trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, đóng góp tích cực vào việc trừng phạt người phạm tội và thu hồi tài sản bất chính. Dù đã có những bước tiến lớn trong quy định pháp luật, đặc biệt là việc mở rộng đối tượng sang pháp nhân thương mại, thực tiễn thi hành vẫn còn nhiều thách thức.
Để nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác thi hành án tịch thu tài sản, cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật, đặc biệt là các văn bản hướng dẫn dưới luật, nhằm giải quyết triệt để các vướng mắc trong việc xử lý tài sản đồng sở hữu và các tài sản liên quan đến nhiều chủ thể. Hơn nữa, việc tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành giữa các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án là yếu tố then chốt để đảm bảo các phán quyết của Tòa án được thực thi một cách triệt để, tránh tình trạng tài sản bị tẩu tán, qua đó góp phần làm cho công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm kinh tế và tham nhũng ngày càng hiệu quả.
Trên đây là những tư vấn của công ty chúng tôi, mọi thắc mắc vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tiếp qua tổng đài 24/7: 1900.6162 để nhận được sự hỗ trợ, tư vấn của Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.