Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Ngân hàng của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Ngân hàng, gọi: 1900.6162

1. Cơ sở pháp lý

- Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010

- Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi năm 2017

2. Tiền điện tử là gì?

Tiền điện tử là biểu hiện dưới hình thức điện tử của tiền pháp định được sự công nhận của chính phủ. Nó không được biểu hiện dưới dạng tiền giấy hoặc tiền xu mà chúng ta có thể cầm nắm được; mà thông qua các thiết bị điện tử lưu trữ như thẻ ATM, ví điện tử, tài khoản ngân hàng….

Ví dụ: Ví thanh toán Momo, Air Pay, VTC Pay, Internet banking, Thẻ ATM….

3. Khái niệm tiền điện tử tại một số khu vực, quốc gia

Trong Chỉ thị về Tiền điện tử ban hành vào năm 2009 của Hội đồng Châu Âu (2009/110/EC), tiền điện tử được định nghĩa là “giá trị tiền tệ thể hiện quyền đòi nợ đối với tổ chức phát hành, mang một số đặc tính như được lưu trữ dưới dạng điện tử, được phát hành trên cơ sở đối ứng với số tiền nhận được không thấp hơn giá trị tiền điện tử phát hành và được các tổ chức khác không phải tổ chức phát hành chấp nhận sử dụng như một phương tiện thanh toán”.

>> Xem thêm:  Phương thức thanh toán quốc tế là gì ? Quy định về phương thức thanh toán quốc tế

Theo danh mục các thuật ngữ dùng cho các hệ thống thanh, quyết toán của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) thì tiền điện tử là “giá trị được lưu trữ trong một thiết bị như thẻ chíp hoặc ổ cứng máy tính cá nhân”.

Quy chế về tiền điện tử năm 2013 (tương đương cấp Nghị định) của Ngân hàng Trung ương Kenya định nghĩa ngắn gọn về tiền điện tử như sau: Tiền điện tử là giá trị tiền tệ thể hiện quyền truy đòi (nợ) đối với tổ chức phát hành tiền điện tử với những đặc tính sau: (i) được lưu trữ dưới dạng điện tử, bao gồm cả từ tính; (ii) được phát hành trên cơ sở đối ứng với số tiền tổ chức phát hành nhận được; (iii) được chấp nhận là phương tiện thanh toán bởi cá nhân, tổ chức không phải là tổ chức phát hành.

Quy định của Ngân hàng Trung ương Indonesia về tiền điện tử: Tiền điện tử được xem là phương tiện thanh toán bao gồm các yếu tố sau: (i) được phát hành dựa trên giá trị tiền gửi của khách hàng đến tổ chức phát hành; (ii) giá trị tiền lưu trữ dưới dạng phương tiện điện tử như máy chủ (server) hoặc chip; (iii) được sử dụng như một phương tiện thanh toán tại một đơn vị chấp nhận thanh toán mà không phải là tổ chức phát hành tiền điện tử; (iv) giá trị tiền điện tử được lưu trữ bởi người nắm giữ và được quản lý bởi tổ chức phát hành.

Quy định của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản: Tiền điện tử (phương tiện thanh toán trả trước) là một trong những công cụ thanh toán bán lẻ điện tử gắn liền với giá trị lưu trữ hoặc công cụ thanh toán điện tử trả trước, trong đó, người sử dụng phải nạp một số tiền trả trước để có thể sử dụng.

Từ những định nghĩa trên, có thể thấy tiền điện tử có những đặc tính cơ bản sau: (i) được lưu trữ giá trị trên phương tiện điện tử; (ii) được thể hiện bằng quyền đòi nợ đối với tổ chức phát hành tiền điện tử; (iii) được phát hành trên cơ sở đối ứng với số tiền tổ chức phát hành nhận được; (iv) được sử dụng để thực hiện giao dịch thanh toán; và (v) được chấp nhận bởi thể nhân hoặc pháp nhân không phải là chính tổ chức phát hành tiền điện tử.

4. Khái niệm tiền điện tử theo pháp luật Việt Nam

Hiện tại, mặc dù thuật ngữ tiền điện tử tại Việt Nam chưa được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật, song, nó đã tồn tại dưới hình thức thẻ trả trước và Ví điện tử. Việc quản lý đối các loại hình tiền điện tử được điều chỉnh tại một số văn bản quy phạm pháp luật sau:

Thứ nhất, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH ngày 16/6/2010:

(i) Khoản 3 Điều 2 quy định: “Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối; thực hiện chức năng của NHTW về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ Chính phủ.”

(ii) Khoản 2 Điều 28 quy định: “Ngân hàng Nhà nước thực hiện việc quản lý các phương tiện thanh toán trong nền kinh tế”.

>> Xem thêm:  Phương thức thanh toán là gì ? Quy định pháp luật về phương thức thanh toán

Thứ hai, Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH ngày 16/6/2010:

(i) Khoản 15 Điều 4 quy định: “ Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng”.

(ii) Điều 97 quy định về hoạt động ngân hàng điện tử: “Tổ chức tín dụng được thực hiện các hoạt động kinh doanh qua việc sử dụng các phương tiện điện tử theo hướng dẫn của ngân hàng nhà nước về quản lý rủi ro và quy định của pháp luật về giao dịch điện tử”.

(iii) Khoản 5 Điều 98 về hoạt động ngân hàng của ngân hàng thương mại quy định: “Cung ứng các phương tiện thanh toán”.

Thứ ba, Luật Phòng, chống rửa tiền số 07/2012/QH13 ngày 18/6/2012: Điểm đ Khoản 3 Điều 4 quy định: “Phát hành công cụ chuyển nhượng, thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, lệnh chuyển tiền, tiền điện tử”.

Thứ tư, Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 về thanh toán không dùng tiền mặt và Nghị định 80/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 101/2012/NĐ-CP.

(i) Khoản 6, Điều 4 quy định: “Phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt sử dụng trong giao dịch thanh toán (sau đây gọi là phương tiện thanh toán), bao gồm: Séc, lệnh chi, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng và các phương tiện thanh toán khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước”.

(ii) Khoản 8, Điều 4 quy định: “Dịch vụ Ví điện tử là dịch vụ cung cấp cho khách hàng một tài khoản điện tử định danh do các tổ chức cung ứng dịch vụ tạo lập trên vật mang tin (như chip điện tử, sim điện thoại di động, máy tính…), cho phép lưu giữ một giá trị tiền tệ được đảm bảo bằng giá trị tiền gửi tương đương với số tiền được chuyển từ tài khoản thanh toán của khách hàng tại ngân hàng vào tài khoản đảm bảo thanh toán của tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử theo tỷ lệ 1:1”.

Thứ năm, Khoản 3 Điều 4 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 quy định về hoạt động thẻ ngân hàng (được sửa đổi bởi Thông tư số 26/2017/TT-NHNN ngày 29/12/2017) quy định: “Thẻ trả trước là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi giá trị tiền được nạp vào thẻ tương ứng với số tiền đã trả trước cho tổ chức phát hành thẻ”.

Thứ sáu, Thông tư 39/2014/TT-NHNN ngày 22/11/2012 hướng dẫn về dịch vụ trung gian thanh toán.

>> Xem thêm:  Ủy nhiệm chi là gì ? Quy định pháp luật về ủy nhiệm chi

Như vậy, mặc dù hiện nay, chưa có văn bản quy phạm pháp luật riêng để quy định về tiền điện tử tại Việt Nam, tuy nhiên, xét về bản chất, tiền điện tử cũng đã được quy định dưới dạng văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các hình thức biểu hiện của tiền điện tử như thẻ trả trước và ví điện tử.

Tại các văn bản quy định pháp lý hiện hành, thuật ngữ “tiền điện tử” đã được đề cập tại Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2012, tuy nhiên, như đã đề cập ở trên, khái niệm tiền điện tử chưa có định nghĩa cụ thể, rõ ràng trong các văn bản quy phạm pháp luật nên thường được hiểu lẫn sang khái niệm tiền ảo, tiền kỹ thuật số. Do đó, để đảm bảo sự thống nhất trong cách hiểu, chuẩn mực, thực tiễn quốc tế, tạo điều kiện phát triển cũng như quản lý, giám sát hiệu lực các hệ thống, phương tiện thanh toán hợp pháp tại Việt Nam, cần có một định nghĩa chính thức, chuẩn xác quy định trong các văn bản pháp lý liên quan đến hoạt động thanh toán.

Ngày nay, thẻ trả trước và ví điện tử đang ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với các giao dịch thanh toán trong nền kinh tế. Tuy nhiên, một số loại hình bản chất tương tự như tiền điện tử dưới dạng lưu trữ giá trị đang được sử dụng (như thẻ Games online, số tiền lưu trữ trong điện thoại dùng để thanh toán (mobile money,…) không do ngân hàng phát hành và chưa có khuôn khổ pháp lý, cơ chế chính sách để quản lý, điều chỉnh.

Những lợi ích mà tiền điện tử đem lại cho các chủ thể trong nền kinh tế là không thể phủ nhận. Xuất phát từ thực tế các quy định về tiền điện tử trên thế giới và xu hướng phát triển tiền điện tử gắn với sự phát triển của khoa học công nghệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các cơ quan quản lý cần phải bổ sung, chỉnh sửa và hoàn thiện các quy định về pháp lý tiền điện tử để phù hợp với thực tiễn cũng như phù hợp với thông lệ và xu hướng phát triển các công cụ thanh toán mới hiện nay. Theo đó, không chỉ ngân hàng mà các tổ chức không phải ngân hàng cũng có thể cung ứng phương tiện thanh toán (như tiền điện tử) dưới sự quản lý và giám sát chặt chẽ của Ngân hàng Nhà nước. Vì vậy, cần thiết phải sớm ban hành văn bản pháp luật để làm rõ khái niệm về tiền điện tử, cũng như điều chỉnh chung về hoạt động tiền điện tử tại Việt Nam.

5. Các hình thức biểu hiện của tiền điện tử là gì?

5.1. Tiền điện tử offline

Một trong những dạng tiền điện tử là tiền điện tử offline (như thẻ trả trước hoặc thẻ thông minh). Thẻ trả trước là loại thẻ được ghi một giá trị tiền nhất định lên nó, dưới dạng từ, điện và thường giống như một chiếc thẻ tín dụng. Khi khách hàng sử dụng, thiết bị chấp nhận thẻ sẽ xóa đi một phần tương ứng với lượng tiền sử dụng trên dải quang, từ hoặc điện tử. Tuy nhiên, phần lớn các thẻ trả trước này thường chỉ được sử dụng với một mục đích duy nhất (ví dụ thẻ điện thoại trả trước được phát hành bởi các công ty viễn thông và chỉ có thể sử dụng để gọi điện tại các bốt điện thoại công cộng) và do đó, không thể được coi là một dạng tiền điện tử hoàn chỉnh.

Thẻ thông minh (smart cards) là dạng mở rộng của thẻ trả trước (prepaid cards). Cũng giống như thẻ trả trước, thẻ thông minh lưu giữ một giá trị tiền nhất định, nhưng khác với thẻ trả trước, thẻ thông minh thường có chip điện tử. Do đó, thẻ thông minh có thể được dùng để sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau. Có thể coi đây là một dạng tiền điện tử, vì khi người dùng mua thẻ thông minh, họ đã chuyển tiền của mình từ dạng tiền truyền thống (tiền mặt, tài khoản thanh toán, xu…) sang tiền điện tử.

5.2. Tiền điện tử online (hay còn gọi là Ví điện tử)

Hiện nay, có rất nhiều website cung cấp dịch vụ thanh toán online mà không thông qua tài khoản ngân hàng. Những website này hoạt động theo hình thức như sau: khách hàng có thể đăng ký tài khoản và được cung cấp một “ví điện tử” với mã bảo mật và thông tin cá nhân. Khách hàng sau đó có thể chuyển tiền của mình từ tài khoản ngân hàng vào ví điện tử này và sau đó, có thể trực tiếp sử dụng tiền từ ví điện tử của mình để mua hàng trực tuyến tại cửa hàng hoặc tham gia những hình thức mua bán trực tiếp giữa khách hàng với nhau trên các trang web đấu giá, mua bán như eBay hay Alibaba. Tiêu biểu nhất và phổ thông nhất trong các website này là PayPal, ngoài ra còn có thêm rất nhiều các website tương tự và độ phổ biến của chúng đang ngày càng tăng. Ban đầu, các loại tiền điện tử này thường chỉ được sử dụng để mua bán giữa khách hàng với nhau, nhưng theo thời gian, chúng ngày càng được chấp nhận rộng rãi bởi các doanh nghiệp, các tổ chức bán hàng trực tuyến.

5.3. Mobile – money

Theo Báo cáo về thực trạng lĩnh vực Mobile-Money năm 2017, Hiệp Hội thông tin di động toàn cầu (GSMA – Global System for Mobile Association) cho rằng, dịch vụ liên quan đến Mobile-Money khi đáp ứng các tiêu chí sau: (i) là dịch vụ chuyển tiền và thanh toán thông qua điện thoại di động; (ii) phải sẵn sàng cho những người chưa có tài khoản ngân hàng (không có tài khoản chính thức tại một tổ chức tài chính chính thức); (iii) phải cung cấp ít nhất một trong những sản phẩm sau: chuyển tiền trong nước và quốc tế, thanh toán hóa đơn, giải ngân các khoản vay và thanh toán cho người bán hoặc lưu trữ giá trị; (iv) phải có mạng lưới các điểm giao dịch vật lý bên ngoài các chi nhánh ngân hàng và các ATM, giúp cho tất cả người dân có thể tiếp cận dễ dàng; (v) các dịch vụ ngân hàng sử dụng điện thoại di động chỉ như một kênh khác phụ thêm để truy cập vào một sản phẩm ngân hàng truyền thống hay các dịch vụ thanh toán liên kết với sản phẩm ngân hàng truyền thống không bao gồm trong thuật ngữ này;…

Công ty Tài chính quốc tế (IFC) cho rằng, Mobile-Money về bản chất là hình thức tiền điện tử, trong đó các giao dịch thanh toán và tài chính được thực hiện trên điện thoại di động, có thể trực tiếp hoặc không trực tiếp gắn kết với tài khoản ngân hàng (IFC, 2018). Hay nói cách khác, Mobile-Money là sự kết hợp của tiền điện tử (như thẻ trả trước, ví điện tử) và sử dụng nền tảng kỹ thuật di động để thực hiện các giao dịch tài chính và sử dụng cơ sở dữ liệu thuê bao di động để định danh khách hàng.

>> Xem thêm:  Ủy nhiệm chi là gì ? Quy định pháp luật về ủy nhiệm chi

Hệ sinh thái Mobile-Money bao gồm các tổ chức phát hành Mobile-Money, tổ chức trung gian có thể được hưởng lợi từ Mobile-Money và các chủ thể sử dụng Mobile-Money. Hệ sinh thái Mobile-Money sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch trong nhiều lĩnh vực khác nhau như bán lẻ, giáo dục, y tế, nông nghiệp, giao thông vận tải và các dịch vụ bảo hiểm, tiết kiệm.

6. Phân biệt giữa “tiền điện tử” và “tiền ảo”

Theo định nghĩa của Ngân hàng Trung Ương Châu Âu (ECB) và cũng là một định nghĩa, cách hiểu thông dụng trên thế giới thì: “Tiền ảo (virtual currency) là một loại tiền kỹ thuật số (Digital money hay Cryptocurrency) không có sự quản lý, được phát hành bởi những người phát triển phần mềm (developers) cũng thường là người kiểm soát hệ thống và được sử dụng và chấp nhận thanh toán giữa các thành viên của một cộng đồng ảo nhất định”.

Từ định nghĩa trên, có thể thấy rằng, tiền ảo gắn liền với khái niệm cộng đồng ảo (virtual communities) – một mạng không gian ảo mà các cá nhân tương tác với nhau. Sự phổ biến của cộng đồng ảo trong những năm gần đây gắn liền với những tiến bộ công nghệ và việc sử dụng Internet ngày càng nhiều trong mọi mặt của đời sống. Trong một vài trường hợp, những cộng đồng này tự tạo và lưu hành những đồng tiền của riêng mình để trao đổi hàng hóa, dịch vụ mà họ cung ứng, qua đó tạo ra chức năng phương tiện trao đổi và đơn vị đo lường giá trị cho chính cộng đồng ảo đó.

Nghiên cứu cho thấy, do bản chất luôn tiến hóa của khái niệm tiền trong bối cảnh kỷ nguyên số dẫn đến những hiểu nhầm về 02 khái niệm tiền điện tử và tiền ảo. Sự khác biệt mấu chốt giữa tiền điện tử với tiền ảo ở chỗ tiền ảo khi được sử dụng với chức năng là đơn vị đo lường giá trị không có sự tương xứng thực tế về địa vị tiền pháp định (legal tender status) như tiền điện tử có được.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

>> Xem thêm: Tư vấn đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà hợp pháp mới 2021 ?

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập

>> Xem thêm:  Sổ séc định mức là gì ? Các xử lý các lỗi phát sinh trong quá trình thanh toán séc

>> Xem thêm:  Có được chuyển số ngày được nghỉ phép năm từ năm cũ sang năm mới không ?

Câu hỏi thường gặp về tiền điện tử

Câu hỏi: Tiền điện tử có đặc điểm gì?

Trả lời:

+ được lưu trữ giá trị trên phương tiện điện tử;

+ được thể hiện bằng quyền đòi nợ đối với tổ chức phát hành tiền điện tử;

+ được phát hành trên cơ sở đối ứng với số tiền tổ chức phát hành nhận được;

+ được sử dụng để thực hiện giao dịch thanh toán; và

+ được chấp nhận bởi thể nhân hoặc pháp nhân không phải là chính tổ chức phát hành tiền điện tử.

Câu hỏi: Tiền điện tử có phải là tiền ảo không?

Trả lời:

Không. Tiền điện tử là hình thức tiền pháp định được lưu trữ dưới phương thức điện tử, có giá trị quy đổi ngang bằng với tiền pháp định. Còn tiền ảo thì không.

Câu hỏi: Ví dụ về một số loại tiền điện tử là gì?

Trả lời:

Ví dụ: Thẻ ATm, thẻ tín dụng, Ví điện tử....