1. Tiền lương trong thời gian chờ việc ?

Kính gửi luật sư! Tôi làm việc cho một công ty từ năm 2007 đến nay ( hợp đồng không xác định thời hạn). Bây giờ công ty không có việc làm và cho nghỉ chờ việc, công ty hỗ trợ tiền nghỉ chờ việc bằng 2750000÷26×số ngày nghỉ, (2750000 là lương tối thiểu của công ty quy định) hiện giờ mức lương công ty trả cho tôi là 2750000 (lương tối thiểu công ty quy định)×2.1(hệ số độc hại của ngành hàn thợ bậc 5). Theo tôi được biết mức lương tối thiểu chung vùng 2 nhà nước quy định hiện nay là 3100000 .
Vậy thưa luật sư số tiền mà công ty hỗ trợ chờ việc cho tôi như vậy là đúng không? Công ty có quy định riêng về mức lương tối thiểu không?
Tôi xin chân thành cảm ơn luật sư!

Tiền lương trong thời gian chờ việc ?

Luật sư tư vấn luật Lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 98. Tiền lương ngừng việc (Bộ luật lao động 2012)

Trong trường hợp phải ngừng việc, người lao động được trả lương như sau:

1. Nếu do lỗi của người sử dụng lao động, thì người lao động được trả đủ tiền lương;

2. Nếu do lỗi của người lao động thì người đó không được trả lương; những người lao động khác trong cùng đơn vị phải ngừng việc được trả lương theo mức do hai bên thoả thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định;

3. Nếu vì sự cố về điện, nước mà không do lỗi của người sử dụng lao động, người lao động hoặc vì các nguyên nhân khách quan khác như thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch hoạ, di dời địa điểm hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc vì lý do kinh tế, thì tiền lương ngừng việc do hai bên thoả thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định.

Vậy trường hợp công ty không sắp xếp được công việc cho người lao động vì lý do chủ quan từ phía công ty dẫn đến phải ngừng việc thì tiền lương ngừng việc bằng mức lương theo hợp đồng lao động của bạn.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định 157/2018/NĐ-CP quy định về mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động (văn bản có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2019) thì mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp áp dụng từ ngày 01/01/2019 có quy định cụ thể như sau:

Điều 3. Mức lương tối thiểu vùng
1. Quy định mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp như sau:
a) Mức 4.180.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng I;
b) Mức 3.710.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng II;
c) Mức 3.250.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng III;
d) Mức 2.920.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng IV.
2. Địa bàn áp dụng mức lương tối thiểu vùng được quy định theo đơn vị hành chính cấp quận, huyện, thị xã và thành phố trực thuộc tỉnh. Danh mục địa bàn áp dụng mức lương tối thiểu thuộc vùng I, vùng II, vùng III và vùng IV được quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này.

Vậy nếu bạn ở vùng 2 thì mức lương ngừng việc của bạn phải được tính bằng hệ số lương x 3710000 đồng.

2. Trả lương đúng pháp luật ?

Xin chào Luật sư! Công ty em là Công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu. Hiện đang áp dụng trả lương the Nghị định 205/2004/NĐ-CP. Trước đây, công nhân lái xe dưới 20 chỗ ngồi được trả lương 3.05 (bậc 3/4). Nay Công ty em chuyển công nhân lái xe sang công việc quản lý bảo vệ rừng.

(Công việc QLBVR công ty em áp dụng bảng lương lao động thừa hành, phục vụ). Như vậy công ty xếp lương từ 3.05 (bậc 3/4) xuống còn 2.98 (12/12) có đúng với quy định hay không? Người lao động có được hưởng chênh lệch bảo lưu hay không?

Em xin chân thành cảm ơn Luật sư!

>> Luật sư tư vấn luật lao động về tiền lương, tiền công gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Về việc chuyển xếp lương.

Căn cứ theo quy định tại Điều 9, khoản 4 Điều 3 của Thông tư số 17/2015/TT-BLĐTBXH "Hướng dẫn xây dựng tháng lương, bảng lương, phụ cấp lương và chuyển xếp lương với người lao động trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu theo nghị định số 49/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật lao động về tiền lương "Hướng dẫn xây dựng tháng lương, bảng lương, phụ cấp lương và chuyển xếp lương với người lao động trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu theo nghị định số 49/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật lao động về tiền lương" quy định như sau:

Điều 9. Chuyển xếp lương

Căn cứ thang lương, bảng lương đối với từng loại lao động, chức danh hoặc công việc người lao động đang đảm nhận, công ty thực hiện việc chuyển xếp lương theo nguyên tắc quy định tại Khoản 4, Điều 3 Thông tư này.

Khoản 4 Điều 3 quy định:

"4. Việc chuyển xếp lương từ thang lương, bảng lương do Nhà nước quy định sang thang lương, bảng lương do công ty xây dựng phải căn cứ vào chức danh, công việc người lao động đảm nhận. Đối với người có thành tích, cống hiến, đóng góp nhiều cho công ty, khi chuyển xếp lương nếu có vướng mắc thì xem xét, xử lý riêng từng trường hợp cụ thể".

Dựa theo các quy định trên, công ty được thực hiện chuyển xếp lương dựa theo việc chuyển xếp lương, bảng lương của nhà nước và công việc mà người lao động đảm nhận. Do đó, việc công ty chuyển xếp lương từ 3.05 (lương lái xe) xuống còn 2.98 (lương quản lý bảo vệ rừng) là đúng quy định.

2. Về việc hưởng chênh lệch bảo lưu:

Theo quy định tại Khoản 2 Mục II Thông tư số 02/2007/TT-BNV Hướng dẫn xếp lương khi nâng ngạch, chuyển ngạch, chuyển loại công chức, viên chức như sau:

“2. Xếp lương khi chuyển ngạch trong cùng loại công chức, viên chức:

a. Trường hợp được bổ nhiệm vào ngạch mới trong cùng nhóm ngạch với ngạch cũ (ngạch cũ và ngạch mới có cùng hệ số bậc lương), thì xếp ngang bậc lương và % phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) đang hưởng ở ngạch cũ (kể cả tính thời gian xét nâng bậc lương lần sau hoặc xét hưởng phụ cấp thâm niên vượt khung nếu có ở ngạch cũ) sang ngạch mới.

b. Trường hợp được bổ nhiệm vào ngạch mới có hệ số lương cùng bậc cao hơn ngạch cũ (ví dụ từ ngạch thuộc A2.2 sang ngạch thuộc A2.1), thì thực hiện như cách xếp lương khi nâng ngạch công chức, viên chức hướng dẫn tại Khoản 1 mục II Thông tư này.

c. Trường hợp được bổ nhiệm vào ngạch mới có hệ số lương cùng bậc thấp hơn ngạch cũ (ví dụ từ ngạch thuộc A2.1 sang ngạch thuộc A2.2), thì thực hiện như cách xếp lương hướng dẫn tại điểm a Khoản 2 này và được hưởng thêm hệ số chênh lệch bảo lưu cho bằng hệ số lương (kể cả phụ cấp thâm nhiên vượt khung, nếu có) đang hưởng ở ngạch cũ. Hệ số chênh lệch bảo lưu này được thực hiện như hướng dẫn tại điểm c Khoản 1 mục II Thông tư này.”

Trường hợp của bạn thuộc điểm c Khoản 2 Mục 2 Thông tư 02/2007/TT-BNV, nên bạn sẽ được hưởng thêm hệ số chệnh lệch bảo lưu bằng hệ số lương cũ (kể cả phụ cấp thâm niên vượt khung, nếu có).

3. Mức lương tối thiểu vùng?

Kính chào Công ty Luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi sau: Tôi có người thân bị xe tải cán chết, tôi tìm hiểu mức bồi thường trên trang web nên đã thông hiểu phần nào về chế độ bồi thường.
Riêng còn phần bồi thường tổn thất tinh thần theo quy định thì không quá 60 tháng lương tối thiểu. Xin cho hỏi có phải áp dụng mức lương tối thiểu hiện nay vùng 1 là 3.100.000/tháng không ạ?
Mong được hỗ trợ sớm. Xin chân thành cám ơn!

Mức lương tối thiểu vùng?

Luật sư tư vấn luật lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo Nghị định 66/2013/NĐ-CP , mức lương cơ sở là 1.150.000 đồng/tháng.

Khoản 1 Điều 3 Nghị định 103/2014/NĐ-CP quy định:

"1. Quy định mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với doanh nghiệp như sau:
a) Mức 3.100.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng I.
b) Mức 2.750.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng II.
c) Mức 2.400.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng III.
d) Mức 2.150.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng IV."

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

4. Trả tiền lương cho người lao động ?

Thưa luật sư, Hiện tại công ty chúng tôi chưa trả lương cho người lao động đã 7 tháng. Vậy chúng tôi phải làm thế nào ?

Trả tiền lương cho người lao động?

Luật sư tư vấn pháp luật lao động về tiền lương, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Công ty luật Minh Khuê tư vấn về vấn đề trả tiền lương cho người lao động như chậm trả lương, chậm ký hợp đồng, ép nhân viên nghỉ việc...và cách thức xin thôi việc đúng luật:

Hiện nay theo quy định của Bộ luật lao động 2012 thì việc trả lương được thực hiện theo nguyên tắc tại Điều 96 Bộ luật lao động:

- Người lao động được trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng thời hạn.

- Trường hợp đặc biệt không thể trả lương đúng thời hạn thì không được chậm quá 01 tháng và người sử dụng lao động phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng lãi suất huy động tiền gửi do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương.

Việc công ty không trả lương đúng hạn và nợ lương là đã vi phạm quy định của pháp luật. Hành vi này sẽ bị xử phạt theo Nghị định 95/2013/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng như sau:

"Điều 13. Vi phạm quy định về tiền lương

[...] 3. Phạt tiền người sử dụng lao động có một trong các hành vi: Trả lương không đúng hạn theo quy định tại Điều 96 của Bộ luật Lao động; trả lương thấp hơn mức quy định tại thang lương, bảng lương đã gửi cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp huyện; trả lương làm thêm giờ, làm việc ban đêm cho người lao động thấp hơn mức quy định tại Điều 97 của Bộ luật Lao động; khấu trừ tiền lương của người lao động trái quy định tại Điều 101 của Bộ luật Lao động; trả không đủ tiền lương ngừng việc cho người lao động theo quy định tại Điều 98 của Bộ luật Lao động theo một trong các mức sau đây:

a) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;

b) Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;

c) Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;

d) Từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;

đ) Từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.

4. Phạt tiền người sử dụng lao động trả lương cho người lao động thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định theo các mức sau đây:

a) Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;

b) Từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;

c) Từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng với vi phạm từ 51 người lao động trở lên.

5. Hình thức xử phạt bổ sung: Đình chỉ hoạt động từ 01 tháng đến 03 tháng đối với người sử dụng lao động có hành vi vi phạm quy định tại Khoản 4 Điều này.

6. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc trả đủ tiền lương cho người lao động theo quy định đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều này;

b) Buộc trả khoản tiền lãi của số tiền lương chậm trả cho người lao động tính theo lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 3 Điều này.

Vì vậy trong trường hợp trên người lao động có thể khiếu nại trực tiếp đến người sử dụng lao động hoặc báo lên Thanh tra lao động để được giải quyết. Bên cạnh đó người lao động cũng có thể khởi kiện ra Tòa án nhân dân cấp huyện nơi công ty đặt trụ sở để đòi quyền lợi theo thủ tục tố tụng dân sự.

Xin chào luật sư! Luật sư cho tôi hỏi: Tôi đã làm việc cho 1 công ty Nhật được 1 năm 5 tháng và tôi đã ký HĐLĐ với công ty 2 năm nữa, có nghĩa là đến tháng 7/2018 mới hết hạn, nhưng hôm nọ trưởng phòng nhân sự gọi tôi vào và nói chuyện là tôi viết đơn nghỉ đi vì công ty nói chưa đáp ứng được yêu cầu, ở lại thì không có quyền lợi gì. Ý là muốn ép tôi nghỉ, mà tôi thấy tôi làm việc đã cống hiến cho công ty khá nhiều mà khi hết hợp đồng tại sao vẫn ký tiếp HĐLĐ thứ 2. Xin hỏi luật sư có thể giải thích giúp tôi trường hợp trên ai sai, và tôi đã kí hợp đồng 2 năm rồi vậy tôi có được quyền lợi gì không? Xin cảm ơn!

Bộ luật lao động có quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động như sau:

Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

Như vậy, trường hợp của bạn, bạn đang làm việc theo HĐLĐ xác định thời hạn. Trưởng phòng nhân sự bảo bạn viết đơn xin nghỉ việc vì bạn chưa đáp ứng được yêu cầu thì bạn có quyền từ chối. Theo quy định của pháp luật, người sử dụng lao động chỉ được đơn phương chấm dứt HĐLĐ khi thuộc 1 trong các trường hợp quy định tại điều 38, người lao động đơn phương chấm dứt HĐLĐ thuộc điều 37. Do đó, trường hợp của bạn không thuộc các trường hợp trên . Do đó khi bạn vẫn tiếp tục làm việc ở công ty thì bạn vẫn được hưởng các quyền lợi như trước đó bạn đã được hưởng.

Thưa luật sư, Em hiện đang làm ở công ty chén dĩa Vinh Cơ thuộc huyện Hóc Môn TP.HCM, khi em vào làm thì công ty có làm cho em hợp đồng học việc 3 tháng. Sau 3 tháng công ty mới ký hợp đồng chính thức em làm đuợc gần 1 tháng em muốn nghỉ vậy có phải thông báo cho công ty không nếu có thì thông báo trước mấy ngày, cần phải viết đơn không, lương của em công ty trả không và có bị giam lương lại không? xin luật sư trả lời giúp em, em xin cảm ơn!

Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

Điều 47. Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động

1. Ít nhất 15 ngày trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

4. Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản thì tiền lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các quyền lợi khác của người lao động theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết được ưu tiên thanh toán.

Theo đó, bạn được đơn phương chấm dứt HĐLĐ với người sử dụng lao động khi thuộc 1 trong những trường hợp quy định tại Khoản 1 điều 37. Nếu bạn làm việc theo HĐLĐ xác định thời hạn, bạn phải báo trước ít nhất 30 ngày; nếu bạn làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn thì phải báo trước ít nhất 45 ngày. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật thì bạn sẽ được công ty thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của bạn, hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của bạn.

Thưa luật sư! Em đang làm việc cho 1 công ty đã được 10 năm. Bây giờ vì công việc gia đình nên em không thể tiếp tục làm việc với công ty được nữa nên em làm đơn xin nghỉ việc . Và em đã báo trước 30 ngày kể từ ngày nộp đơn và công ty đã thanh toán. Sau đó đã trừ tiền lương của em, tiền thưởng đó là tiền thưởng tháng 13 của năm 2016. Công ty đã trừ như vậy đúng hay sai? Nếu công ty đã làm sai thì em phải làm thế nào để đòi lại số tiền mà công ty đã trừ?

Điều 43. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.

Điều 114. Thanh toán tiền lương những ngày chưa nghỉ

1. Người lao động do thôi việc, bị mất việc làm hoặc vì các lý do khác mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì được thanh toán bằng tiền những ngày chưa nghỉ

Đối với trường hợp của bạn đã làm việc cho 1 công ty được 10 năm, vậy bạn đang làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn. Do đó, khi nghỉ việc , bạn phải báo trước ít nhất 45 ngày cho người sử dụng lao động. Bạn báo trước 30 ngày , do đó , bạn đã vi phạm thời hạn báo trước. Do đó theo khoản 2 điều 43 , bạn phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước. Khi bạn nghỉ, công ty phải có trách nhiệm thanh toán bằng tiền cho bạn những ngày chưa nghỉ. Do bạn không cung cấp rõ thông tin người sử dụng lao động trừ tiền lương của bạn vì lý do gì và trừ bao nhiều nên xin tư vấn cho bạn như sau: Nếu công ty trừ tiền lương của bạn là số tiền tương ứng với những ngày bạn không báo trước thì đúng pháp luật. Nếu công ty của bạn trừ tiền lương của bạn vượt quá số tiền tương ứng với những ngày bạn không báo trước thì trái pháp luật. Trong trường hợp này bạn có thể khiếu nại lên người sử dụng lao động hoặc thanh tra lao động, khởi kiện ra Toà án.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

5. Hỏi về nợ tiền lương không trả ?

Tôi đi làm tư nhân cho 1 cơ sở cửa sắt, thời gian đầu vào làm thì không có hợp đồng rõ ràng nên BHXH, BHTT cũng không có. Nhưng làm cho ông chủ của tiệm đó nửa năm mà hàng tháng ông ta không trả lương đúng hẹn là tôi lấy lương theo tháng, cuối tháng không có lương nên tôi có hỏi, ông đó chỉ nói:" chú chưa có tiền, đợi 1 vài bữa nữa chú đưa cho" nên tôi đợi.
Vì gia đình cần tiền nên tôi muốn ông ta trả tiền lương cho tôi nhưng nhiều lần tôi ra đòi nhưng ông ta có ý không hợp tác, số tiền ông ta nợ tôi trên 10 triệu nhưng từ ngày 24/12/2015 đến nay tôi chưa nhận được tiền hoặc sự hợp tác nào từ ông ta. Xin hỏi luật sư là ông ta có vi phậm luật lao động không và tôi có thể viết đơn trình báo tới CAND huyện để được giải quyết không?
Xin chân thành cảm ơn.

Hỏi về nợ tiền lương không trả?

Luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến: 1900.6162

Trả lời

Kính chào và cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho chứng tôi. Với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Theo quy định tại Điều 15,16 Luật lao động năm 2012

Điều 15. Hợp đồng lao động

Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.

Điều 16. Hình thức hợp đồng lao động

1. Hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Đối với công việc tạm thời có thời hạn dưới 03 tháng, các bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói.

Như vậy theo quy định của Bộ luật lao động thì bạn và chủ sử dụng lao động phải ký két hợp đồng , đây cũng là quyền lợi của bạn trong trường hợp có xảy ra tranh chấp thì có thể khởi kiện theo quy định của pháp luật

Theo quy định tại Điều 96 Nguyên tắc trả lương

Điều 96. Nguyên tắc trả lương

Người lao động được trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng thời hạn.

Trường hợp đặc biệt không thể trả lương đúng thời hạn thì không được chậm quá 01 tháng và người sử dụng lao động phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng lãi suất huy động tiền gửi do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương.

Bạn nói bạn làm việc cho người chủ cửa hàng từ 24/12/2015 và đến nay bạn vẫn chưa nhận được đồng lương nào. Như vậy thì người này đã vi phạm hợp đồng lao động về nghĩa vụ trả tiền làm theo hợp đồng. Trong trường hợp này để bảo vệ quyền lợi của mình bạn có thể gửi đơn đến tòa án để được giải quyết. Tranh chấp giữa bạn và ông ta là tranh chấp về thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng lao động thuộc thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Tòa án theo quy định tại Khoản 3 Điều 25 văn bản hợp nhất bộ luật tố tụng dân sự 2013 :

Điều 25. Những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án

3. Tranh chấp về thực hiện hợp đồng

Và bạn gửi đến tòa án nơi bị đơn cư trú theo quy định tại khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự

Yêu cầu về hình thức đơn khởi kiện và chứng cứ kèm theo

"Điều 164. Hình thức nội dung đơn khởi kiện

1. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện phải làm đơn khởi kiện.

2. Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;

b) Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện;

c) Tên, địa chỉ của người khởi kiện;

d) Tên, địa chỉ của người có quyền và lợi ích được bảo vệ, nếu có;

đ) Tên, địa chỉ của người bị kiện;

e) Tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nếu có;

g) Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

h) Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng, nếu có.

3. Người khởi kiện là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; người khởi kiện là cơ quan, tổ chức thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn; trường hợp khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự thì đơn khởi kiện do người đại diện theo pháp luật của những người này ký tên hoặc điểm chỉ. Kèm theo đơn khởi kiện phải có các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của người khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp."

Trường hợp người khởi kiện không biết chữ, không nhìn được, không thể tự mình ký tên hoặc điểm chỉ thì phải có người làm chứng và người này phải ký Xác nhận trước mặt người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp Xã.

Người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp Xã chứng nhận trước mặt người khởi kiện và người làm chứng.

Điều 165 Tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện

Người khởi kiện phải gửi kèm theo đơn khởi kiện tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Trong trường hợp bạn không có hợp đồng để chứng minh thì những người làm ở xưởng đó hay những người dân sống xung quanh có thể làm chứng cho bạn đã làm việc ở đó

6. Làm thế nào để đòi được tiền lương trong thời gian thử việc ?

Thưa Luật sư, tôi có nhận thử việc cho 1 công ty bất động sản nhưng không có kí hợp đồng thử việc, làm được 13 ngày thì tôi cảm thấy không phù hợp nên đã làm đơn xin nghỉ việc và giám đốc đã duyệt và nói sẽ phát lương khi đến ngày, ngày mùng 10 hàng tháng. Nhưng khi đến ngày 10 thì không trả lương và lật lọng nói là nghỉ ngang và không xin phép trước 1 tuần.

Trong khi đó cũng có những đồng nghiệp nghỉ sau tôi vài ngày là nhân viên chính thức cũng không kí hợp đồng lao động và cũng không được trả lương. Giờ chúng tôi phải làm sao để lấy lại được lương của mình. Nếu muốn kiện lên sở lao động thì có được không?

Xin chân thành cảm ơn Luật sư.

Người gửi: V.P

Làm thế nào để đòi được tiền lương trong thời gian thử việc ?

Luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến, gọi số: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Theo quy định của Bộ luật lao động 2012, trong thời gian thử việc, bạn sẽ được hưởng chế dộ tiền lương như sau:

"Điều 28. Tiền lương trong thời gian thử việc

Tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc do hai bên thoả thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó."

Việc bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng thử việc cũng không bị coi là trái pháp luật theo quy định của Bộ luật lao động động 2012 vì đây là quyền của bạn:

"Điều 29. Kết thúc thời gian thử việc

1. Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.

2. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận."

Trong trường hợp người sử dụng có hành vi vi phạm pháp luật lao động, không tiến hành trả lương theo quy định như chúng tôi đã nêu trên, bạn có thể khiếu nại đến Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội theo quy định tại điều 237 Bộ luật lao động 2012.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Cách tính thuế tiền lương tháng 13, tiền thưởng, tiền làm thêm giờ ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn luật Lao động - Công ty luật Minh KHuê