1. Tiền lương trong thời gian chờ việc ?

Kính gửi luật sư! Tôi làm việc cho một công ty từ năm 2007 đến nay ( hợp đồng không xác định thời hạn). Bây giờ công ty không có việc làm và cho nghỉ chờ việc, công ty hỗ trợ tiền nghỉ chờ việc bằng 2750000÷26×số ngày nghỉ, (2750000 là lương tối thiểu của công ty quy định) hiện giờ mức lương công ty trả cho tôi là 2750000 (lương tối thiểu công ty quy định)×2.1(hệ số độc hại của ngành hàn thợ bậc 5). Theo tôi được biết mức lương tối thiểu chung vùng 2 nhà nước quy định hiện nay là 3100000 .
Vậy thưa luật sư số tiền mà công ty hỗ trợ chờ việc cho tôi như vậy là đúng không? Công ty có quy định riêng về mức lương tối thiểu không?
Tôi xin chân thành cảm ơn luật sư!

Tiền lương trong thời gian chờ việc ?

Luật sư tư vấn luật Lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 99 Bộ luật lao động 2019 quy định:

"Điều 99. Tiền lương ngừng việc

Trường hợp phải ngừng việc, người lao động được trả lương như sau:

1. Nếu do lỗi của người sử dụng lao động thì người lao động được trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động;

2. Nếu do lỗi của người lao động thì người đó không được trả lương; những người lao động khác trong cùng đơn vị phải ngừng việc thì được trả lương theo mức do hai bên thỏa thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu;

3. Nếu vì sự cố về điện, nước mà không do lỗi của người sử dụng lao động hoặc do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa, di dời địa điểm hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc vì lý do kinh tế thì hai bên thỏa thuận về tiền lương ngừng việc như sau:

a) Trường hợp ngừng việc từ 14 ngày làm việc trở xuống thì tiền lương ngừng việc được thỏa thuận không thấp hơn mức lương tối thiểu;

b) Trường hợp phải ngừng việc trên 14 ngày làm việc thì tiền lương ngừng việc do hai bên thỏa thuận nhưng phải bảo đảm tiền lương ngừng việc trong 14 ngày đầu tiên không thấp hơn mức lương tối thiểu."

Vậy trường hợp công ty không sắp xếp được công việc cho người lao động vì lý do chủ quan từ phía công ty dẫn đến phải ngừng việc thì tiền lương ngừng việc bằng mức lương theo hợp đồng lao động của bạn.

Theo quy định tại Điều 3 Nghị định 90/2019/NĐ-CP quy định về mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động (văn bản có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2020) thì mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp áp dụng từ ngày 01/01/2020 có quy định cụ thể như sau:

"Điều 3. Mức lương tối thiểu vùng

1. Quy định mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp như sau:

a) Mức 4.420.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng I.

b) Mức 3.920.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng II.

c) Mức 3.430.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng III.

d) Mức 3.070.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng IV.

2. Địa bàn áp dụng mức lương tối thiểu vùng được quy định theo đơn vị hành chính cấp quận, huyện, thị xã và thành phố trực thuộc tỉnh. Danh mục địa bàn áp dụng mức lương tối thiểu thuộc vùng I, vùng II, vùng III và vùng IV được quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này."

Vậy nếu bạn ở vùng 2 thì mức lương ngừng việc của bạn phải được tính bằng hệ số lương x 3.920.000 đồng.

>> Xem thêm:  Khấu trừ lương là gì ? Quy định về khấu trừ lương

2. Trả lương đúng pháp luật ?

Xin chào Luật sư! Công ty em là Công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu. Hiện đang áp dụng trả lương theo Nghị định 205/2004/NĐ-CP. Trước đây, công nhân lái xe dưới 20 chỗ ngồi được trả lương 3.05 (bậc 3/4). Nay Công ty em chuyển công nhân lái xe sang công việc quản lý bảo vệ rừng.

(Công việc QLBVR công ty em áp dụng bảng lương lao động thừa hành, phục vụ). Như vậy công ty xếp lương từ 3.05 (bậc 3/4) xuống còn 2.98 (12/12) có đúng với quy định hay không? Người lao động có được hưởng chênh lệch bảo lưu hay không?

Em xin chân thành cảm ơn Luật sư!

>> Luật sư tư vấn luật lao động về tiền lương, tiền công gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Về việc chuyển xếp lương.

Căn cứ theo quy định tại Điều 9, khoản 4 Điều 3 của Thông tư số 17/2015/TT-BLĐTBXH "Hướng dẫn xây dựng tháng lương, bảng lương, phụ cấp lương và chuyển xếp lương với người lao động trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu theo nghị định số 49/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật lao động về tiền lương "Hướng dẫn xây dựng tháng lương, bảng lương, phụ cấp lương và chuyển xếp lương với người lao động trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu theo nghị định số 49/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật lao động về tiền lương" quy định như sau:

"Điều 9. Chuyển xếp lương

Căn cứ thang lương, bảng lương đối với từng loại lao động, chức danh hoặc công việc người lao động đang đảm nhận, công ty thực hiện việc chuyển xếp lương theo nguyên tắc quy định tại Khoản 4, Điều 3 Thông tư này."

Khoản 4 Điều 3 quy định:

"4. Việc chuyển xếp lương từ thang lương, bảng lương do Nhà nước quy định sang thang lương, bảng lương do công ty xây dựng phải căn cứ vào chức danh, công việc người lao động đảm nhận. Đối với người có thành tích, cống hiến, đóng góp nhiều cho công ty, khi chuyển xếp lương nếu có vướng mắc thì xem xét, xử lý riêng từng trường hợp cụ thể".

Dựa theo các quy định trên, công ty được thực hiện chuyển xếp lương dựa theo việc chuyển xếp lương, bảng lương của nhà nước và công việc mà người lao động đảm nhận. Do đó, việc công ty chuyển xếp lương từ 3.05 (lương lái xe) xuống còn 2.98 (lương quản lý bảo vệ rừng) là phù hợp với quy định của pháp luật.

2. Về việc hưởng chênh lệch bảo lưu:

Theo quy định tại Khoản 2 Mục II Thông tư số 02/2007/TT-BNVHướng dẫn xếp lương khi nâng ngạch, chuyển ngạch, chuyển loại công chức, viên chức như sau:

“2. Xếp lương khi chuyển ngạch trong cùng loại công chức, viên chức:

a. Trường hợp được bổ nhiệm vào ngạch mới trong cùng nhóm ngạch với ngạch cũ (ngạch cũ và ngạch mới có cùng hệ số bậc lương), thì xếp ngang bậc lương và % phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) đang hưởng ở ngạch cũ (kể cả tính thời gian xét nâng bậc lương lần sau hoặc xét hưởng phụ cấp thâm niên vượt khung nếu có ở ngạch cũ) sang ngạch mới.

b. Trường hợp được bổ nhiệm vào ngạch mới có hệ số lương cùng bậc cao hơn ngạch cũ (ví dụ từ ngạch thuộc A2.2 sang ngạch thuộc A2.1), thì thực hiện như cách xếp lương khi nâng ngạch công chức, viên chức hướng dẫn tại Khoản 1 mục II Thông tư này.

c. Trường hợp được bổ nhiệm vào ngạch mới có hệ số lương cùng bậc thấp hơn ngạch cũ (ví dụ từ ngạch thuộc A2.1 sang ngạch thuộc A2.2), thì thực hiện như cách xếp lương hướng dẫn tại điểm a Khoản 2 này và được hưởng thêm hệ số chênh lệch bảo lưu cho bằng hệ số lương (kể cả phụ cấp thâm nhiên vượt khung, nếu có) đang hưởng ở ngạch cũ. Hệ số chênh lệch bảo lưu này được thực hiện như hướng dẫn tại điểm c Khoản 1 mục II Thông tư này.”

Trường hợp của bạn thuộc điểm c Khoản 2 Mục 2 Thông tư 02/2007/TT-BNV, nên bạn sẽ được hưởng thêm hệ số chệnh lệch bảo lưu bằng hệ số lương cũ (kể cả phụ cấp thâm niên vượt khung, nếu có).

>> Xem thêm:  Lương thời gian là gì ? Quy định pháp luật về lương thời gian

3. Mức lương tối thiểu vùng?

Kính chào Công ty Luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi sau: Tôi có người thân bị xe tải cán chết, tôi tìm hiểu mức bồi thường trên trang web nên đã thông hiểu phần nào về chế độ bồi thường.
Riêng còn phần bồi thường tổn thất tinh thần theo quy định thì không quá 60 tháng lương tối thiểu. Xin cho hỏi có phải áp dụng mức lương tối thiểu hiện nay vùng 1 là 3.100.000/tháng không ạ?
Mong được hỗ trợ sớm. Xin chân thành cám ơn!

Mức lương tối thiểu vùng?

Luật sư tư vấn luật lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Khoản 2 Điều 591 Bộ luật Dân sự 2015 quy định như sau:

"Điều 591. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

...

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định."

Như vậy, mức bồi thường để bù đắp về mặt tinh thần theo quy định của luật là không quá 100 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định. Mức lương cơ sở tại thời điểm hiện tại (năm 2020) được quy định tại Điều 3 Nghị định 90/2020/NĐ-CP như sau:

"Điều 3. Mức lương tối thiểu vùng

1. Quy định mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp như sau:

a) Mức 4.420.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng I.

b) Mức 3.920.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng II.

c) Mức 3.430.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng III.

d) Mức 3.070.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng IV.

2. Địa bàn áp dụng mức lương tối thiểu vùng được quy định theo đơn vị hành chính cấp quận, huyện, thị xã và thành phố trực thuộc tỉnh. Danh mục địa bàn áp dụng mức lương tối thiểu thuộc vùng I, vùng II, vùng III và vùng IV được quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này."

Bạn có thể áp dụng mức lương cơ sở này để tính toán mức bồi thường để bù đắp về mặt tinh thần cho phù hợp với trường hợp của mình.

>> Xem thêm:  Một số quy định mới năm 2021 về tiền lương theo luật lao động ?

4. Trả tiền lương cho người lao động ?

Thưa luật sư, Hiện tại công ty chúng tôi chưa trả lương cho người lao động đã 7 tháng. Vậy chúng tôi phải làm thế nào ?

Trả tiền lương cho người lao động?

Luật sư tư vấn pháp luật lao động về tiền lương, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Công ty luật Minh Khuê tư vấn về vấn đề trả tiền lương cho người lao động như chậm trả lương, chậm ký hợp đồng, ép nhân viên nghỉ việc...và cách thức xin thôi việc đúng luật:

Hiện nay theo quy định của Bộ luật lao động 2019 thì việc trả lương được thực hiện theo nguyên tắc tại Điều 95 và điều 97 Bộ luật lao động:

- Người sử dụng lao động phải trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn cho người lao động. Trường hợp người lao động không thể nhận lương trực tiếp thì người sử dụng lao động có thể trả lương cho người được người lao động ủy quyền hợp pháp.

- Trường hợp vì lý do bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn thì không được chm quá 30 ngày; nếu trả lương chậm từ 15 ngày trlên thì người sử dụng lao động phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng số tiền lãi của số tiền trả chậm tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do ngân hàng nơi người sử dụng lao động mở tài khoản trả lương cho người lao động công bố tại thời điểm trả lương.

Việc công ty không trả lương đúng hạn và nợ lương là đã vi phạm quy định của pháp luật. Hành vi này sẽ bị xử phạt theo Nghị định 95/2013/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng như sau:

"Điều 16. Vi phạm quy định về tiền lương

...

2. Phạt tiền đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi: Trả lương không đúng hạn; không trả hoặc trả không đủ tiền lương cho người lao động theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động; không trả hoặc trả không đủ tiền lương cho người lao động làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, công việc đòi hỏi đã qua đào tạo, học nghề theo quy định của pháp luật; trả lương thấp hơn mức quy định tại thang lương, bảng lương đã gửi cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp huyện; không trả hoặc trả không đủ tiền lương làm thêm giờ, tiền lương làm việc ban đêm, tiền lương ngừng việc cho người lao động theo quy định của pháp luật; khấu trừ tiền lương của người lao động không đúng quy định của pháp luật; trả lương không đúng quy định cho người lao động khi tạm thời chuyển người lao động sang làm công việc khác so với hợp đồng lao động, trong thời gian tạm đình chỉ công việc, trong thời gian đình công, những ngày người lao động chưa nghỉ hàng năm theo một trong các mức sau đây:

a) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;

b) Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;

c) Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;

d) Từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;

đ) Từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.

...

5. Biện pháp khắc phục hậu quả

a) Buộc trả đủ tiền lương cộng với khoản tiền lãi của số tiền lương chậm trả, trả thiếu cho người lao động tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này;

b) Buộc trả đủ khoản tiền tương ứng với mức đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp và tiền nghỉ phép hằng năm cho người lao động đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 4 Điều này."

Vì vậy trong trường hợp trên người lao động có thể khiếu nại trực tiếp đến người sử dụng lao động hoặc báo lên Thanh tra lao động để được giải quyết. Bên cạnh đó người lao động cũng có thể khởi kiện ra Tòa án nhân dân cấp huyện nơi công ty đặt trụ sở để đòi quyền lợi theo thủ tục tố tụng dân sự.

Xin chào luật sư! Luật sư cho tôi hỏi: Tôi đã làm việc cho 1 công ty Nhật được 1 năm 5 tháng và tôi đã ký HĐLĐ với công ty 2 năm nữa, có nghĩa là đến tháng 7/2018 mới hết hạn, nhưng hôm nọ trưởng phòng nhân sự gọi tôi vào và nói chuyện là tôi viết đơn nghỉ đi vì công ty nói chưa đáp ứng được yêu cầu, ở lại thì không có quyền lợi gì. Ý là muốn ép tôi nghỉ, mà tôi thấy tôi làm việc đã cống hiến cho công ty khá nhiều mà khi hết hợp đồng tại sao vẫn ký tiếp HĐLĐ thứ 2. Xin hỏi luật sư có thể giải thích giúp tôi trường hợp trên ai sai, và tôi đã kí hợp đồng 2 năm rồi vậy tôi có được quyền lợi gì không? Xin cảm ơn!

Bộ luật lao động có quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động như sau:

"Điều 36. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động được xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của người sử dụng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc do người sử dụng lao động ban hành nhưng phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục thì người sử dụng lao động xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động với người lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31 của Bộ luật này;

đ) Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;

e) Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên;

g) Người lao động cung cấp không trung thực thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật này khi giao kết hợp đồng lao động làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng người lao động.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, đ và g khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải báo trước cho người lao động như sau:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng và đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;

d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

3. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại điểm d và điểm e khoản 1 Điều này thì người sử dụng lao động không phải báo trước cho người lao động."

Như vậy, trường hợp của bạn, bạn đang làm việc theo HĐLĐ xác định thời hạn. Trưởng phòng nhân sự bảo bạn viết đơn xin nghỉ việc vì bạn chưa đáp ứng được yêu cầu thì bạn có quyền từ chối. Theo quy định của pháp luật, người sử dụng lao động chỉ được đơn phương chấm dứt HĐLĐ khi thuộc 1 trong các trường hợp quy định tại điều 34, người lao động đơn phương chấm dứt HĐLĐ thuộc điều 35. Do đó, trường hợp của bạn không thuộc các trường hợp trên. Do đó khi bạn vẫn tiếp tục làm việc ở công ty thì bạn vẫn được hưởng các quyền lợi như trước đó bạn đã được hưởng.

>> Xem thêm:  Tiền lương là gì ? Tiền lương tối thiểu là gì ?

5. Hỏi về nợ tiền lương không trả ?

Tôi đi làm tư nhân cho 1 cơ sở cửa sắt, thời gian đầu vào làm thì không có hợp đồng rõ ràng nên BHXH, BHYT cũng không có. Nhưng làm cho ông chủ của tiệm đó nửa năm mà hàng tháng ông ta không trả lương đúng hẹn là tôi lấy lương theo tháng, cuối tháng không có lương nên tôi có hỏi, ông đó chỉ nói:" chú chưa có tiền, đợi 1 vài bữa nữa chú đưa cho" nên tôi đợi.
Vì gia đình cần tiền nên tôi muốn ông ta trả tiền lương cho tôi nhưng nhiều lần tôi ra đòi nhưng ông ta có ý không hợp tác, số tiền ông ta nợ tôi trên 10 triệu nhưng từ ngày 24/12/2015 đến nay tôi chưa nhận được tiền hoặc sự hợp tác nào từ ông ta. Xin hỏi luật sư là ông ta có vi phậm luật lao động không và tôi có thể viết đơn trình báo tới CAND huyện để được giải quyết không?
Xin chân thành cảm ơn.

Hỏi về nợ tiền lương không trả?

Luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến: 1900.6162

Trả lời

Kính chào và cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho chúng tôi. Với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Theo quy định tại Điều 13, 14 Bộ luật lao động 2019

"Điều 13. Hợp đồng lao động

1. Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.

Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động.

2. Trước khi nhận người lao động vào làm việc thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.

Điều 14. Hình thức hợp đồng lao động

1. Hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

Hợp đồng lao động được giao kết thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử có giá trị như hợp đồng lao động bằng văn bản.

2. Hai bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói đối với hợp đồng có thời hạn dưới 01 tháng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 18, điểm a khoản 1 Điều 145 và khoản 1 Điều 162 của Bộ luật này."

Như vậy theo quy định của Bộ luật lao động thì bạn và chủ sử dụng lao động phải ký két hợp đồng, đây cũng là quyền lợi của bạn trong trường hợp có xảy ra tranh chấp thì có thể khởi kiện theo quy định của pháp luật

Theo quy định tại Điều 94 Nguyên tắc trả lương

Điều 94. Nguyên tắc trả lương

1. Người sử dụng lao động phải trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn cho người lao động. Trường hợp người lao động không thể nhận lương trực tiếp thì người sử dụng lao động có thể trả lương cho người được người lao động ủy quyền hợp pháp.

2. Người sử dụng lao động không được hạn chế hoặc can thiệp vào quyền tự quyết chi tiêu lương của người lao động; không được ép buộc người lao động chi tiêu lương vào việc mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của người sử dụng lao động hoặc của đơn vị khác mà người sử dụng lao động chỉ định.

Bạn nói bạn làm việc cho người chủ cửa hàng từ 24/12/2015 và đến nay bạn vẫn chưa nhận được đồng lương nào. Như vậy, người chủ cửa hàng đã có hành vi trái quy định của pháp luật, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bạn, trong trường hợp này, bạn có quyền gửi đơn tố cáo đến Sở Lao động - Thương binh và xã hội nơi cửa hàng đặt trụ sở để được giải quyết, nếu Sở Lao động - Thương binh và xã họi không giải quyết hoặc bạn không đồng ý cách giải quyết của Sở Lao động - Thương binh và xã hội thì bạn có thể làm đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân nơi cửa hàng đặt trụ sở để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Cách tính thuế tiền lương tháng 13, tiền thưởng, tiền làm thêm giờ ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Emailđể nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn luật Lao động - Công ty luật Minh KHuê

>> Xem thêm:  Thu nhập là gì ? Tiền lương là gì ? Quy định pháp luật về thu nhập, tiền lương

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Bị ngừng việc không do lỗi của người lao động có được trả lương?

Trả lời:

Điều 99 Bộ luật lao động 2019 quy định về tiền lương ngừng việc thì người lao động bị ngừng việc nếu do lỗi của người sử dụng lao động thì người lao động được trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động;

Câu hỏi: Bị ngừng việc do lỗi của người lao động có được trả lương?

Trả lời:

Điều 99 Bộ luật lao động 2019 quy định về tiền lương ngừng việc thì thì người lao động bị ngừng việc nếu do lỗi của người lao động thì người đó không được trả lương; những người lao động khác trong cùng đơn vị phải ngừng việc thì được trả lương theo mức do hai bên thỏa thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu;

Câu hỏi: Tiền lương ngừng việc nếu do lỗi khách quan?

Trả lời:

Điều 99 Bộ luật lao động 2019 quy định về tiền lương ngừng việc thì nếu vì sự cố về điện, nước mà không do lỗi của người sử dụng lao động hoặc do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa, di dời địa điểm hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc vì lý do kinh tế thì hai bên thỏa thuận về tiền lương ngừng việc như sau:

a) Trường hợp ngừng việc từ 14 ngày làm việc trở xuống thì tiền lương ngừng việc được thỏa thuận không thấp hơn mức lương tối thiểu;

b) Trường hợp phải ngừng việc trên 14 ngày làm việc thì tiền lương ngừng việc do hai bên thỏa thuận nhưng phải bảo đảm tiền lương ngừng việc trong 14 ngày đầu tiên không thấp hơn mức lương tối thiểu."