1. Tổng quan về danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân 

1.1. Định nghĩa Nghệ sĩ nhân dân

Nghệ sĩ nhân dân là danh hiệu cao nhất mà Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trao tặng (tương tự như Giải thưởng Hồ Chí Minh) cho những người hoạt động biểu diễn nghệ thuật với tiêu chí là trung thành với Tổ quốc, với chủ nghĩa xã hội, có tài năng xuất sắc, có cống hiến nhiều cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

 

1.2. Lịch sử hình thành danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân 

Danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân là một trong những danh hiệu cao quý nhất trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật của Việt Nam, được trao tặng cho những nghệ sĩ có đóng góp xuất sắc, tiêu biểu trong sự nghiệp phát triển nghệ thuật của đất nước. Lịch sử hình thành danh hiệu này gắn liền với quá trình phát triển và sự thăng hoa của nền nghệ thuật Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử.

Giai đoạn Trước Khi Thành Lập Danh Hiệu

Trước khi danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân ra đời, Việt Nam đã có nhiều nghệ sĩ xuất sắc trong các lĩnh vực nghệ thuật như sân khấu, điện ảnh, âm nhạc, múa, văn học, v.v. Họ là những người tiên phong, đặt nền móng và phát triển các loại hình nghệ thuật, góp phần quan trọng vào việc duy trì và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, chưa có một danh hiệu chính thức nào để ghi nhận và tôn vinh những đóng góp to lớn của họ.

Thành Lập Danh Hiệu Nghệ sĩ Nhân dân

Danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân được chính thức thành lập và quy định trong Nghị định số 27-HĐBT ngày 10 tháng 6 năm 1984 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Mục đích của danh hiệu này là để tôn vinh những nghệ sĩ đã có nhiều cống hiến xuất sắc trong lĩnh vực nghệ thuật, có ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển của nền văn hóa nghệ thuật nước nhà và được đông đảo quần chúng nhân dân yêu mến, kính trọng.

 

2. Tiêu chuẩn xét tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân 

2.1. Yêu cầu về thành tích nghệ thuật 

Khoản 4 Điều 7 Nghị định số 61/2024/NĐ-CP quy định về các tiêu chí để xét tặng danh hiệu "Nghệ sĩ nhân dân" cho nghệ sĩ thì cá nhân đó đã  được tặng danh hiệu "Nghệ sĩ ưu tú" và thêm một trong các tiêu chí khác về thành tích:

a) Tiêu chí giải Vàng quốc gia:

+ Nghệ sĩ phải có ít nhất 02 giải Vàng quốc gia, trong đó có 01 giải Vàng quốc gia là của cá nhân.

+ Giải Vàng quốc gia của cá nhân hoặc của bộ phim, chương trình, vở diễn, tiết mục được quy đổi để tính thành tích cho cá nhân.

+ Giải thưởng quốc tế của cá nhân hoặc của bộ phim, chương trình, vở diễn, tiết mục được quy đổi để làm căn cứ tính thành tích cho cá nhân.

b) Tiêu chí quy đổi giải Vàng quốc gia:

+ Nếu nghệ sĩ không có 01 giải Vàng quốc gia là của cá nhân, thì phải có ít nhất 03 giải Vàng quốc gia được quy đổi cho cá nhân.

+ Giải Vàng quốc gia của cá nhân hoặc của bộ phim, chương trình, vở diễn, tiết mục được quy đổi để tính thành tích cho cá nhân.

+ Giải thưởng quốc tế của cá nhân hoặc của bộ phim, chương trình, vở diễn, tiết mục được quy đổi để làm căn cứ tính thành tích cho cá nhân.

c) Tiêu chí cho tác phẩm âm nhạc hoặc nhiếp ảnh:

+ Nghệ sĩ phải có ít nhất 02 giải Vàng quốc gia đối với tác phẩm âm nhạc hoặc tác phẩm nhiếp ảnh.

+ Giải Vàng quốc gia của tác phẩm âm nhạc hoặc nhiếp ảnh được tính quy đổi theo tỷ lệ quy định.

+ Giải thưởng quốc tế của tác phẩm âm nhạc hoặc nhiếp ảnh được quy đổi để làm căn cứ tính thành tích cho cá nhân.

 

2.2. Đóng góp nổi bật trong lĩnh vực nghệ thuật 

Đóng góp nổi bật trong lĩnh vực nghệ thuật là tiêu chuẩn hàng đầu để xét tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân. Những đóng góp này bao gồm:

+ Sáng Tạo Nghệ Thuật Xuất Sắc: Nghệ sĩ phải có các tác phẩm nghệ thuật, vai diễn, hay công trình nghiên cứu nghệ thuật đạt chất lượng cao, được đánh giá cao về mặt chuyên môn và nghệ thuật. Những tác phẩm này phải có giá trị thẩm mỹ, nhân văn, và phản ánh được tinh thần của thời đại, góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa nghệ thuật của dân tộc.

+ Ảnh Hưởng Tích Cực: Nghệ sĩ có ảnh hưởng sâu rộng đến cộng đồng, được công chúng và đồng nghiệp kính trọng, yêu mến. Các tác phẩm và hoạt động nghệ thuật của họ phải góp phần tích cực vào việc định hình và phát triển xu hướng nghệ thuật, giáo dục thẩm mỹ cho công chúng, và thúc đẩy sự phát triển của nền nghệ thuật quốc gia.

+ Giải Thưởng và Công Nhận: Nghệ sĩ có thể đã đạt được nhiều giải thưởng uy tín trong nước và quốc tế, được các tổ chức nghệ thuật, hội đồng nghệ thuật và đồng nghiệp công nhận về tài năng và cống hiến. 

 

2.3. Thời gian hoạt động nghệ thuật 

Khoản 3 và điểm d khoản 4 Điều 7 Nghị định số 61/2024/NĐ-CP ngày 6/6/2024 quy định về xét tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú quy định: 

Thứ nhất, trường hợp người chưa có danh hiệu nghệ sĩ ưu tú thì phải phải có thời gian hoạt động chuyên nghiệp trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật liên tục hoặc cộng dồn từ 20 năm trở lên. Riêng với nghệ thuật xiếc và múa, yêu cầu là 15 năm trở lên.

Thứ hai, với trường hợp cá nhân đã có danh hiệu nghệ sĩ ưu tú thì phải có thêm một trong các tiêu chí sau: 

+ Người cao tuổi theo Luật Người cao tuổi, hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp thêm 10 năm so với quy định tại Khoản 3, có nhiều đóng góp xuất sắc trong giai đoạn kháng chiến cứu nước.

+ Nghệ sĩ hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp thêm 10 năm, có nhiều đóng góp xuất sắc và vẫn tích cực tham gia biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị các cấp.

+ Nghệ sĩ hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp thêm 10 năm, có nhiều đóng góp xuất sắc trong nhạc giao hưởng, nhạc vũ kịch, nhạc kịch, và vẫn tích cực tham gia biểu diễn. 

+ Giáo viên, giảng viên đào tạo trực tiếp ít nhất 3 học sinh/sinh viên đạt giải Vàng tại các cuộc thi quốc gia, quốc tế, vẫn tích cực tham gia biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp và có nhiều đóng góp xuất sắc, hoặc hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp thêm 10 năm với các tiêu chuẩn như trên. 

 

3. Quy trình xét tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân 

3.1. Các bước trong quy trình xét tặng 

Trình tự, thủ tục xét tặng danh hiệu “Nghệ sĩ nhân dân”, “Nghệ sĩ ưu tú” tại Hội đồng cấp cơ sở và cấp tỉnh được quy định tại Điều 14 và 15 Nghị định số 61/2024/NĐ-CP, bao gồm các bước sau: 

Bước 1: Công khai danh sách: Danh sách cá nhân đề nghị xét tặng được niêm yết công khai hoặc đăng trên trang thông tin điện tử của đơn vị trong 10 ngày kể từ khi kết thúc thời hạn nhận hồ sơ để lấy ý kiến Nhân dân.

Bước 2: Tiếp nhận và xử lý kiến nghị: Trong 15 ngày sau khi kết thúc công khai danh sách, các kiến nghị từ Nhân dân sẽ được tiếp nhận và xử lý.

Bước 3: Xem xét hồ sơ: Hội đồng xem xét, đánh giá từng hồ sơ trong 10 ngày từ khi nhận ý kiến các thành viên Hội đồng về hồ sơ. 

Bước 4: Thông báo kết quả: Hội đồng thông báo kết quả xét tặng bằng văn bản tới các cá nhân có hồ sơ đề nghị trong thời gian quy định sau khi kết thúc cuộc họp.

Bước 5: Xử lý kiến nghị: Các kiến nghị về kết quả xét tặng được tiếp nhận và xử lý trong 20 ngày kể từ khi thông báo kết quả.

Bước 6: Hoàn thiện hồ sơ: Trong thời gian quy định sau khi hết hạn tiếp nhận kiến nghị, hồ sơ hoàn thiện sẽ được gửi tới cơ quan thường trực Hội đồng cấp bộ, tỉnh nếu đạt từ 80% phiếu đồng ý của tổng số thành viên Hội đồng. 

Bước 7: Thời gian tổ chức: Thời gian xét tặng danh hiệu tại Hội đồng cấp cơ sở không quá thời gian quy định.

Riêng với danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân tại Hội đồng cấp Nhà nước sẽ có sự khác biệt, theo Điều 16 Nghị định này thì sẽ được tiến hành xét tặng qua 2 bước tại Hội đồng chuyên ngành cấp Nhà nước và Hội đồng cấp Nhà nước.  

 

3.2. Hội đồng xét duyệt và vai trò của họ 

Điều 9 Nghị định số 61/2024/NĐ-CP đã nêu Hội đồng xét tặng danh hiệu “Nghệ sĩ nhân dân”, “Nghệ sĩ ưu tú” được thành lập theo từng lần xét tặng và sẽ tự giải thể sau khi hoàn thành nhiệm vụ. 

Vai trò của Hội đồng xét tặng danh hiệu là quyết định xem xét và đánh giá các hồ sơ đề nghị xét tặng danh hiệu nghệ sĩ nhân dân và nghệ sĩ ưu tú.  

 

3.3. Các văn bản và chứng nhận cần thiết 

Khoản 1 Điều 13 Nghị định số 61/2024/NĐ-CP quy định hồ sơ để được xét tặng Nghệ sĩ nhân dân bao gồm: 

a) Tờ khai đề nghị: Theo mẫu số 1a hoặc 1b tại Phụ lục I của Nghị định.

b) Bản sao từ sổ gốc hoặc bản sao có chứng thực: Cần có bản sao từ sổ gốc hoặc bản sao có chứng thực. Nếu nộp hồ sơ trực tiếp, cần xuất trình bản chính để đối chiếu. Nếu nộp hồ sơ qua bưu chính hoặc trên môi trường điện tử, chỉ cần bản sao có chứng thực.

c) Bản xác nhận của Thủ trưởng đơn vị: Xác nhận về sự tham gia của cá nhân trong các tác phẩm nghệ thuật đạt giải Vàng hoặc Bạc tại các cuộc thi, liên hoan, hội diễn nghệ thuật chuyên nghiệp để quy đổi thành tích cho cá nhân.

d) Bản sao từ sổ gốc hoặc bản sao có chứng thực: bao gồm các quyết định về danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng. Nếu nộp hồ sơ trực tiếp, cần xuất trình bản chính để đối chiếu; nếu nộp hồ sơ qua bưu chính hoặc môi trường điện tử, chỉ cần bản sao có chứng thực. 

 

4. Những ví dụ điển hình về nghệ sĩ nhân dân 

4.1. Các nghệ sĩ đã được vinh danh 

- NSND Trịnh Kim Chi 

- NSND Lê Đại Chức

 

4.2. Đóng góp của họ cho nghệ thuật và cộng đồng 

NSND Trịnh Kim Chi đã góp mặt trong nhiều bộ phim nổi tiếng như: Những đứa con trong thành phố, Oan gia đại chiến, Những nẻo đường phù sa, Sóng gió thương trường, Cô gái xấu xí, Gạo nếp gạo tẻ... Hiện cô đang là Phó Chủ tịch Hội Sân khấu TP.HCM, Giám đốc Sân khấu Kịch Trịnh Kim Chi. NSND Trịnh Kim Chi chia sẻ cô cảm thấy rất vui, rất hạnh phúc và đây thực sự là niềm vinh dự vô cùng lớn. Sự ghi nhận này cũng là động lực để cô có thể cố gắng nhiều hơn nữa, cống hiến nhiều hơn nữa cho nghệ thuật nước nhà.

NSND Lê Đại Chức (từng công tác tại Cục Nghệ thuật biểu diễn, Bộ VHTTDL) thì cho rằng, ông tự cho mình đã là nghệ sĩ của nhân dân lâu rồi nhưng hôm nay mới thực sự được "tiêu chuẩn hóa". Điều này càng khiến ông nhận ra trách nhiệm của mình cao hơn. "Làm nghệ thuật như là xương máu của nghệ sĩ. Chúng tôi có cảm giác rằng đó là một thiêng năng mà bản thân mình với tinh thần trách nhiệm và kiến thức trong nghề nghiệp để truyền lại cho các thế hệ sau". 

 

5. Tầm quan trọng của danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân 

Danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân là một trong những danh hiệu cao quý nhất trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật của Việt Nam, đánh dấu sự công nhận và tôn vinh đặc biệt đối với những cá nhân có đóng góp xuất sắc và nổi bật trong sự nghiệp nghệ thuật. Đây không chỉ là một danh hiệu vinh danh cá nhân mà còn mang ý nghĩa to lớn về tinh thần và truyền thống nghệ thuật của dân tộc.​

Lưu ý: Nghị định số 61/2024/NĐ-CP hiệu lực thi hành từ ngày 22 tháng 7 năm 2024. 

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Tiêu chuẩn xét tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân hiện nay là gì? mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.

Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất. Xin trân trọng cảm ơn!