1. Cơ sở pháp lý về hợp đồng dịch vụ pháp lý

- Bộ luật dân sự năm 2015

- Luật Luật sư năm 2006 sửa đổi năm 2012

- Nghị định 137/2018/NĐ-CP

- Nghị định 123/2013/NĐ-CP

- Nghị định 82/2020/NĐ-CP

2. Chủ thể của hợp đồng dịch vụ pháp lý

2.1. Bên cung ứng dịch vụ 

Dịch vụ pháp lý ở Việt Nam hiện nay đã phát triển khá đa dạng về phạm vi hoạt động nhằm hỗ trợ mọi vấn đề pháp lý cho các chủ thể trong xã hội khi họ có nhu cầu. Ngoài Luật sư, tổ chức hành nghề luật sư thì nhiều chủ thể khác cung có thể cung cấp dịch vụ pháp lý. Theo quy định tại Nghị định 77/2008/NĐ-CP, Trung tâm tư vấn pháp luật thực hiện các dịch vụ pháp lý như tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, thực hiện trợ giup sphaps lý. Hoặc công chứng viên, thừa phát lại đều là của nhân chuyên ngành luật, ngoài công việc chuyên môn thì họ cũng có thể thực hiện tư vấn pháp luật miễn là không vi phạm điều cấm của luật. Tuy nhiên, trong lĩnh vực hành nghề của mỗi chủ thể, hợp đồng dịch vụ pháp lý lại có nội dung và phương thức sử dụng riêng. Trong bài chia sẻ này sẽ tập trùng trình bày và phân tích quy định pháp luật về chủ thể của hợp đồng dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực hành nghề luật sư.

Điều kiện về năng lực chủ thể

Theo quy đinh của pháp luật Việt nam hiện hành, Luật sư không được ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với khác hàng mà không thông qua tổ chức hành nghề luật sư (điểm g khoản 3 Điều 6 Nghị định 82/2020/NĐ-CP) cho nên chủ thể giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý với tư các là bên cung cấp dịch vụ pháp lý là tổ chức hành nghề luật sư. Còn chủ thể trực tiếp thực hiện dịch vụ pháp lý cho khách hàng là Luật sư. Luật sư khi cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có sức khỏe tốt và không bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Điều kiện để được cung cấp dịch vụ pháp lý trong hoạt động hành nghề luật sư

ĐỐi với hợp đồng dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực hành nghề luật sư, bên cung ứng dịch vụ là tổ chức hành nghề luật sư đáp ứng đủ các điều kiện hành ngề luật sư theo quy định của pháp luật Việt Nam. Bên cung ứng dịch vụ trong hợp đồng dịch vụ pháp lý có thể là tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam hoặc tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam. Và để có thể hành nghề luật sư ở Việt Nam thì mỗi chủ thể này đều phải đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam thì mới được cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng thông qua ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý.

Đối với luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng:

Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng) (Điều 2 Luật Luật sư năm 2006). Theo đó, để được cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng, Luật sư phải đáp ứng những điều kiện sau:

+ Là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt. Người có đủ tiêu chuẩn tuân thủ Hiến Pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt phải là người không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 17 Luật Luật sư năm 2006 và không thuộc trường hợp bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức hoặc bị xử lts hành chính hoặc xử lý hình sự mà một trong các quyết định xử lý này chưa chấm dứt hiệu lực theo quy định pháp luật. Trường hợp một trong các quyết định xử lý đã chấm dứt hieuj lực và người đó có văn bản giải trình, cam kết về quá trình phấn đấu về việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt và có xác nhận của cơ quan, tổ chức nơi làm việc cuối cùng của người đó trước thời điểm đề nghị cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư hoặc của công an xã, phương, thị trấn nơi người đó cư trú thì được coi là đáp ứng tiêu chuẩn về tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt (khoản 2 Điều 1 Nghị định 137/2018/NĐ-CP)

+ Có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư.

Người có bằng cử nhân luật là người đã tốt nghiệp Đại học chuyên ngành luật, tham gia khóa đào tạo nghề luật sư trong thời gian 12 tháng tại Học viện Tư pháp thuộc Bộ tư pháp và cơ sở đào tạo nghề luật sư thuộc Liên đoàn luật sư Việt Nam (trừ trường hợp được miễn đào tạo) (Điều 2 Nghị định 123/2013/NĐ-CP, khoản 4 Điều 1 Luật Luật sư sửa đổi năm 2012). Sau khi hoàn thành khóa đào tạo, người được cấp chứng chỉ hoàn thành khóa đào tạo phải tập sự hành nghề luật sư trong thời gian một năm tại một tổ chức hành nghề luật sư và phải đăng ký tập sự hành nghề luật sư  tại Đoàn luật sư ở địa phương nơi có trụ sở của tổ chức hành nghề luật sư mà mình tập sự (khoản 5 Điều 1 Luật Luật sư sửa đổi năm 2012) (trừ trường hợp được miến,giảm thời gian tập sự hành nghề luật sư). Người tập sự hành nghề luật sư đã hoàn thành thời gian tập sự theo quy định, có đủ điều kiện tham gia kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư gửi Liên đoàn Luật sư Việt Nam và được Hội đồng kiểm tra cấp Giấy chứng nhận kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư nếu đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư (khoản 6 Điều 1 Luật Luật sư sửa đổi năm 2012). Người được miễn tập sự hành nghề luật sư thì không phải tham dự kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư.

+ Tham gia Đoàn luật sư và được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư. người đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư phải gửi hồ sơ đề nghị cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư gửi Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư. Người được miễn đào tạo nghề luật sư và miễn tập sự hành nghề luật sư phải có hồ sơ cấp Chúng chỉ hành nghề luật sư gửi Bộ tư pháp. Người có Chứng chỉ hành nghề luật sư lựa chọn gia nhập một Đoàn luật sư bằng cách gửi hồ sơ gia nhập Đoàn luật sư đến Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư. Sau khi đã gia nhập một Đoàn luật sư, Luật sư hoạt động trong Đoàn luật sư đó và làm việc theo hợp đồng lao động cho tổ chức hành nghề luật sư hoặc cơ quan, tổ chức không phải tổ chức hành nghề luật sư (khoản 7, khoản 11 Điều 1 Luật Luật sư sửa đổi năm 2012).

Về tổ chức hành nghề luật sư

Tổ chức hành nghề luật sư do  một Luật sư hoặc nhiều Luật sư tham gia thành lập theo quy định của Luật Luật sư và quy định khác của pháp luật có liên quan. Trong đó, Luật sư thành lập hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư phải có ít nhất hai năm hành nghề liên tục làm việc theo hợp đồng lao động cho tổ chức hành nghề luật sư hoặc hành nghề với tư cách cá nhân theo hợp đồng lao động do cơ quan, tổ chức không phải tổ chức hành nghề luật sư. Tổ chức hoạt động hành nghề luật sư hoạt động theo Giấy đăng ký hoạt động, được thực hiện dịch vụ pháp lý và nhận thù lao từ khách hàng. Ở Việt Nam tổ chức hành nghề luật sư hoạt động dưới hai hình thức chính đó là Văn phòng luật sư và công ty luật.

Về tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam

Tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài đã được thành lập và đang hành nghề luật sư hợp pháp tại nước ngoài, khi tham gia hoạt động hành nghề luật sư tại Việt Nam thì phải hành nghề theo quy định của Luật Luật sư, pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật về đầu tư và các văn bản pháp luật khác có liên quan. Tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài hành nghề tại VIệt nam dưới các hình thức đó là Chi nhánh; Công ty luật nước ngoài.

Chủ thể tham gia giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý của bên cung ứng dịch vụ:

+ Đối với Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân: Đích danh Luật sư là người ký kết hợp đồng lao động với cơ quan, tổ chức không phải là tổ chức hành nghề luật sư. Về bản chất đây vẫn là hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý của Luật sư bởi việc cung cấp dịch vụ pháp lý này phải đăng ký hành nghề với tư cách cá nhân tại Sở Tư pháp (Điều 50 Luật Luật sư 2006), cơ quan, tổ chức, mà Luật sư  giao kết hợp đồng lao động là khách hàng duy nhất của Luật sư và Luật sư không được cung cấp dịch vụ pháp lý cho cá nhân, cơ quan, tổ chức khác.

+ Đối với tổ chức hành nghề luật sư: Bên cung úng dịch vụ trong hợp đồng dịch vụ pháp lý là tổ chức hành nghề luật sư và được thực hiện bởi người đại diện theo pháp luật của tổ chức hành nghề luật sư.

Tóm lại, bên cung ứng dịch vụ trong hợp đồng dịch vụ pháp lý là luật sư trường hợp hành nghề với tư cách cá nhân, là tổ chức hành nghề luật sư được thành lập hợp pháp, có đủ các điều kiện hành nghề luật sư theo quy định của pháp luật Việt Nam.

2.2. Bên sử dụng dịch vụ

Bên sử dụng dịch vụ trong hợp đồng dịch vụ pháp lý hay còn gọi là khách hàng là các chủ thể trong xã hội có nhu cầu hỗ trợ, giải quyết các vấn đề về mặt pháp lý mà họ gặp phải trong cuộc sống.

- Bên sử dụng dịch vụ là cá nhân: Phải là chủ thể có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, trực tiếp giao kết hợp đồng và thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt hoặc theo quy định pháp luật thì bên sử dụng dịch vụ pháp lý phải thoogn quan người đại diện để giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý: đối với người chưa thành niên, đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong vụ án hình sự.

- Bên sử dụng dịch vụ là pháp nhân: Pháp nhân là tổ chức có đăng ký thành lập theo quy định, có tên gọi, có địa chỉ, có tài sản riêng, có tình trạng pháp lý. Pháp nhân tham gia ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý với tổ chức hành nghề luật sư được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền.

Từ những phân tích nêu trên, có thể thấy bên sử dụng dịch vụ trong hợp đồng dịch vụ pháp lý có thể là cá nhân, pháp nhân (thông qua người đại diện).