- 1. Khái quát về hiệp ước OASINHTƠN năm 1970
- 2. Hiệp ước hợp tác sáng chế
- 3. Thủ tục và gia nhập
- 4. Mục đích của Hiệp ước hợp tác về sáng chế
- 5. Sáng chế và đặc điểm của sáng chế
- 6. Một số qui định của pháp luật về bảo hộ sáng chế
- Thứ nhất, điều kiện chung đối với sáng chế được bảo hộ
- Thứ hai, đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế
- Thứ ba, tính mới của sáng chế
- Thứ tư, về hiệu lực của sáng chế
- Thứ năm, khả năng áp dụng công nghiệp
1. Khái quát về hiệp ước OASINHTƠN năm 1970
Hiệp ước OASINHTƠN năm 1970 là điều ước quốc tế đa phương về hợp tác sáng chế (PCT) được kí tại Oasinhtơn (M) ngày 19.6.1970.
Mục đích của Hiệp ước là góp phần giảm phí tổn về nhân lực và thời gian, đơn giản hóa phương thức cấp văn bằng bảo hộ, đồng thời, tránh tình trạng cấp văn bằng trùng lặp tại các nước thành viên. Hiệp ước này tập trung đề cập khả năng nộp "đơn quốc tế" (Intemational Application) về đăng kí sáng chế, giải pháp hữu ích tại cơ quan cấp văn bằng của các nước thành viên.
Đơn "đơn quốc tế" (Intemational Application) này có thể được một trong số các tổ chức quốc tế thẩm định như các tổ chức chuyên môn và sáng chế do Viện nghiên cứu bằng sáng chế quốc tế ở La Hay (Hà Lan) kiểm soái.
Theo đề nghị của người nộp đơn, cơ quan này có thể không bị hạn chế trong việc tìm kiếm và tiến hành thẩm tra sơ bộ. Sau đó, cơ quan có thẩm quyền của nước liên quan sẽ ra quyết định về việc cấp bằng sáng chế nếu kết luận của việc thẩm tra không mâu thuẫn với những yêu cầu mà luật trong nước đòi hỏi.
Đến nay đã có khoảng 100 quốc gia gia nhập Hiệp ước. Việt Nam là thành viên chính thức của Hiệp ước từ năm 1993. Các nước thành viên của Hiệp ước Oasinhtơn đã thành lập Hiệp hội quốc tế về hợp tác sáng chế.
2. Hiệp ước hợp tác sáng chế
Hiệp ước Hợp tác Sáng chế (PCT) là một hiệp ước quốc tế về luật sáng chế, được ký kết vào năm 1970. Nó cung cấp một thủ tục thống nhất cho việc nộp đơn xin bảo hộ sáng chế tại mỗi quốc gia ký kết. Một đơn xin cấp bằng sáng chế nộp theo Hiệp ước hợp tác sáng chế (PCT) được gọi là một đơn quốc tế, hoặc đơn Hiệp ước hợp tác sáng chế (PCT).
Một đơn nộp đơn Hiệp ước hợp tác sáng chế được thực hiện với một Receiving Office (RO) bằng một ngôn ngữ. Sau đó kết quả tìm kiếm của Cơ quan Tìm kiếm Quốc tế (ISA), cùng với ý kiến bằng văn bản về khả năng cấp bằng sáng chế của sáng chế, là đối tượng của đơn. Sau đó là một cuộc kiểm tra sơ bộ do Cơ quan Thẩm định sơ bộ Quốc tế (IPEA) thực hiện. Cuối cùng, các cơ quan quốc gia hoặc khu vực có liên quan quản lý các vấn đề liên quan đến việc kiểm tra đơn (nếu được cung cấp bởi luật quốc gia) và cấp bằng sáng chế.
Một đơn Hiệp ước hợp tác sáng chế không phải là kết quả của việc cấp bằng sáng chế, vì không có bằng sáng chế quốc tế và việc cấp bằng sáng chế là đặc quyền của mỗi cơ quan có thẩm quyền của quốc gia hoặc khu vực. Nói cách khác, một ứng dụng Hiệp ước hợp tác sáng chế , thiết lập ngày nộp đơn ở tất cả các quốc gia ký kết, phải được theo sau với bước tiến hành các giai đoạn quốc gia hoặc khu vực để tiến tới cấp một hoặc nhiều bằng sáng chế. Thủ tục PCT chủ yếu dẫn đến một đơn đăng ký quốc gia hoặc khu vực tiêu chuẩn có thể được cấp hoặc từ chối theo luật áp dụng trong mỗi thẩm quyền mà bằng độc quyền sáng chế.
Các quốc gia ký kết, các quốc gia là các bên của PCT, tạo thành Liên minh Hợp tác Sáng chế Quốc tế.
3. Thủ tục và gia nhập
Những lợi ích chính của thủ tục Hiệp ước hợp tác sáng chế, còn được gọi là thủ tục quốc tế, là khả năng trì hoãn tối đa: (a) thủ tục quốc gia hoặc khu vực; (B) lệ phí tương ứng và chi phí dịch thuật; Và, (c) thủ tục nộp đơn thống nhất. Từ quan điểm thực tế, điều này có thể cho phép các doanh nghiệp mới tìm kiếm đối tác chiến lược, tài trợ và thị trường trước khi công nghệ của họ trở nên công khai.
Một ứng dụng Hiệp ước hợp tác sáng chế (còn gọi là "ứng dụng bằng sáng chế quốc tế") có hai giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên là giai đoạn quốc tế trong đó bảo hộ sáng chế đang chờ giải quyết trong một đơn đăng ký duy nhất nộp cho cơ quan sáng chế của một quốc gia ký kết hợp đồng Hiệp ước hợp tác sáng chế. Giai đoạn hai là giai đoạn quốc gia và khu vực theo sau giai đoạn quốc tế, trong đó quyền được tiếp tục bằng cách nộp các tài liệu cần thiết với các cơ quan cấp bằng sáng chế của các quốc gia ký kết riêng biệt của Hiệp ước hợp tác sáng chế. Một đơn Hiệp ước hợp tác sáng chế, như vậy, không phải là một yêu cầu thực tế mà một bằng sáng chế được cấp, và nó không phải là một bằng sáng chế, và trừ khi nó đi vào "giai đoạn quốc gia".
Bất kỳ nhà thầu nào tham gia Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp đều có thể trở thành thành viên của PCT.
Phần lớn các nước trên thế giới là các bên tham gia PCT, bao gồm tất cả các nước công nghiệp hoá chủ yếu (với một số ngoại lệ, bao gồm Argentina và Đài Loan). Tính đến ngày 16 tháng 3 năm 2017, đã có 152 quốc gia ký kết hiệp ước với PCT. Jordan đã trở thành quốc gia ký kết 152 vào ngày 9 tháng 3 năm 2017. PCT sẽ có hiệu lực cho Jordan vào ngày 9 tháng 6 năm 2017.
4. Mục đích của Hiệp ước hợp tác về sáng chế
Sáng chế là những sản phẩm, quy trình được tạo nên từ chính con người dựa trên các quy luật của tự nhiên.
Theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ sáng chế được bảo hộ độc quyền dưới hình thức bằng độc quyền giải pháp hữu ích hoặc bằng độc quyền sáng chế
Mục đích chính của Hiệp ước hợp tác về sáng chế là đơn giản hóa thủ tục bảo hộ sáng chế và thực hiện việc bảo hộ một cách kinh tế hơn. Đối với người nộp đơn, khi muốn được bảo hộ một sáng chế đồng thời ở một số nước thì chỉ cần nộp một đơn quốc tế duy nhất có cùng một hiệu quả như nộp các đơn riêng biệt vào cơ quan sáng chế của từng nước thành viên Hiệp ước hợp tác về sáng chế đã được chỉ định trong đơn này, vì vậy việc đó giảm nhẹ đáng kể khối lượng côn việc trong thủ tục nộp đơn và tiết kiệm chi phí cho thủ tục nộp đơn.
Mặt khác, đối với cơ quan sáng chế quốc gia, trong khi các thành tựu kĩ thuật trên thế giới ngày càng gia tăng nên lượng đơn yêu cầu bảo hộ sáng chế tăng không ngừng thì theo PCT các công việc nhận đơn, xem xét hồ sơ đơn, tra cứu tên quốc tế và thẩm định bản chất của đơn để cấp bằng độc quyền sáng chế sẽ giảm nhẹ bằng cách tất cả các đơn nộp vào các nước đều có một báo cáo tra cứu do một cơ quan tra cứu quốc tế có đầy đủ các phương tiện thông tin và đội ngũ những người tra cứu có trình độ tiến hành.
5. Sáng chế và đặc điểm của sáng chế
Sáng chế là những sản phẩm, quy trình được tạo nên từ chính con người dựa trên các quy luật của tự nhiên.
Theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ sáng chế được bảo hộ độc quyền dưới hình thức bằng độc quyền giải pháp hữu ích hoặc bằng độc quyền sáng chế.
Đặc điểm của sáng chế ta có thể kể đến những đặc điểm sau:
– Sáng chế được thể hiện dưới dạng sản phẩm là vật thể
Dụng cụ, máy móc, linh kiện, thiết bị….là những sản phẩm dưới dạng vật thể. Các sản phẩm này được thể hiện bằng tập hợp các thông tin xác định một sản phẩm nhân tạo, đặc trưng về kết cấu có chức năng như một phương tiện để đáp ứng nhu cầu của con người
– Sáng chế được thể hiện dưới dạng sản phẩm là chất thể
Thực phẩm, dược phẩm, vật liệu, chất liệu…là những sản phẩm dưới dạng chất thể. Các sản phẩm này được thể hiện bằng tập hợp các thông tin xác định một sản phẩm nhân tạo, đặc trưng về tỉ lệ, trạng thái và sự hiện diện nhằm đáp ứng nhu cầu nhất định của con người
– Sáng chế được thể hiện dưới dạng sản phẩm là vật liệu sinh học
Động vật biến đổi gen, thực vật, gen…là những sản phẩm dưới dạng vật liệu sinh học. Các sản phẩm này có chứa các thông tin di truyền, biến đổi dưới sự tác động của con người
– Phương pháp hay quy trình
Các dấu hiệu về trình tự, điều kiện, thành phần tham gia, phương tiện thực hiện…là tập hợp các thông tin đã được xác định, tiến hành qua phương pháp hay quy trình (phương pháp chuẩn đoán, quy trình công nghệ, kiểm tra, xử lý…).
6. Một số qui định của pháp luật về bảo hộ sáng chế
Sáng chế là những sản phẩm, quy trình được tạo nên từ chính con người dựa trên các quy luật của tự nhiên.
Thứ nhất, điều kiện chung đối với sáng chế được bảo hộ
Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền sáng chế nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
- Có tính mới;
- Có trình độ sáng tạo;
- Có khả năng áp dụng công nghiệp.
Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích nếu không phải là hiểu biết thông thường và đáp ứng các điều kiện sau đây:
- Có tính mới;
- Có khả năng áp dụng công nghiệp.
Thứ hai, đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế
- Phát minh, lí thuyết khoa học, phương pháp toán học.
- Sơ đồ, kế hoạch, qui tắc và phương pháp để thực hiện các hoạt động trí óc, huấn luyện vật nuôi, thực hiện trò chơi, kinh doanh; chương trình máy tính.
- Cách thức thể hiện thông tin.
- Giải pháp chỉ mang đặc tính thẩm mĩ.
- Giống thực vật, giống động vật.
- Qui trình sản xuất thực vật, động vật chủ yếu mang bản chất sinh học mà không phải là qui trình vi sinh.
- Phương pháp phòng ngừa, chẩn đoán và chữa bệnh cho người và động vật.
Thứ ba, tính mới của sáng chế
- Sáng chế được coi là có tính mới nếu chưa bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kì hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng kí sáng chế hoặc trước ngày ưu tiên trong trường hợp đơn đăng kí sáng chế được hưởng quyền ưu tiên.
- Sáng chế được coi là chưa bị bộc lộ công khai nếu chỉ có một số người có hạn được biết và có nghĩa vụ giữ bí mật về sáng chế đó.
Thứ tư, về hiệu lực của sáng chế
Bằng độc quyền sáng chế có hiệu lực từ ngày cấp và kéo dài đến hết hai mươi năm kể từ ngày nộp đơn.
Thứ năm, khả năng áp dụng công nghiệp
Sáng chế được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể thực hiện được việc chế tạo, sản xuất hàng loạt sản phẩm hoặc áp dụng lặp đi lặp lại qui trình là nội dung của sáng chế và thu được kết quả ổn định. (Theo Luật sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2013)
Trân trọng!