1. Cơ sở pháp lý

Hiệp ước về hoạt động của Liên minh châu Âu 

Chỉ thị về Dịch vụ 2006/123/EC

Chỉ thị về Quyền công dân 2004/38/EC

2. Khái quát về Liên minh châu Âu

Liên minh châu Âu (Europe Union - EU) là một liên minh chính trị và kinh tế bao gồm 27 quốc gia thành viên tại châu Âu. Tiền thân của EU là Cộng đồng kinh tế Châu Âu (EEC) được thành lập sau Chiến tranh thế giới thứ hai với mục đích ban đầu là thúc đẩy hợp tác kinh tế và tránh xung đột giữa các Quốc gia. Vào ngày ngày 1 tháng 1 năm 1993, Liên minh châu Âu được thành lập bởi Hiệp ước Maastricht.

Liên minh châu Âu đã phát triển thị trường chung thông qua hệ thống luật pháp thống nhất áp dụng cho tất cả các nước thành viên nhằm đảm bảo sự lưu thông tự do của con người, hàng hóa, dịch vụ và vốn. Liên minh châu Âu đã phát triển vai trò nhất định trong chính sách đối ngoại, có đại diện trong Tổ chức Thương mại Thế giới, G7, G20 và Liên Hợp Quốc. Đây là nhà xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ sản xuất lớn nhất thế giới và là thị trường nhập khẩu lớn nhất của hơn 100 quốc gia.

Cơ sở pháp lý hình thành Liên minh châu Âu là các hiệp ước được ký kết và phê chuẩn bởi các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu. Các hiệp ước đầu tiên đánh dấu sự thành lập EEC và EU là Hiệp ước Maastricht - TEU Hiệp ước về hoạt động của Liên minh châu  Âu - TFEU. Các hiệp ước tiếp theo chỉnh sửa và bổ sung các hiệp ước đầu tiên ngày một đầy đủ và hoàn thiện hơn: Hiệp ước Nice, Hiệp ước Amsterdam, Hiệp ước Lisbon.

Các đạo luật chính của Liên minh châu Âu được thông qua dưới ba dạng có tính chất pháp lý và phạm vi ảnh hưởng khác nhau: Quy định (Regulation), Chỉ thị (Directive), và Quyết định (Decision).

Cơ cấu tổ chức của EU bao gồm: Nghị viện châu Âu, Hội đồng bộ trưởng, Ủy ban châu Âu, Hội đồng châu Âu, Ngân hàng Trung ương châu Âu, Tòa án Công lý Liên minh châu Âu và Tòa án Kiểm toán châu Âu. Trong đó:

-         Thẩm quyền xem xét và sửa đổi hệ thống luật pháp của EU - quyền lập pháp - thuộc về Nghị viện châu Âu và Hội đồng Bộ trưởng.

-         Quyền hành pháp được giao cho Ủy ban châu Âu và một bộ phận nhỏ thuộc về Hội đồng châu Âu được quyết định bởi Ngân hàng Trung ương châu Âu.

-         Việc giải thích và áp dụng luật của Liên minh châu Âu và các điều ước quốc tế có liên quan - quyền tư pháp - được thực thi bởi Tòa án Công lý Liên minh châu Âu.

-         Ngoài ra còn có một số cơ quan nhỏ khác phụ trách tư vấn cho Liên minh châu Âu hoặc hoạt động riêng biệt trong các lĩnh vực đặc thù.

3. Hiệp ước về hoạt động của Liên minh châu Âu - TFEU

Hiệp ước về hoạt động của Liên minh châu Âu còn được gọi là Hiệp ước Rome là một trong hai hiệp ước hình thành nên cơ sở lập hiến của EU. Nó được ký kết vào ngày 25 tháng 3 năm 1957, có hiệu lực vào ngày 1 tháng 1 năm 1958. Đây vẫn là một trong hai điều ước quan trọng nhất trong EU cho đến ngày nay. TFEU được phát triển từ Hiệp ước thành lập Cộng đồng Châu Âu (TEC hoặc Hiệp ước EC), sau đó tên của hiệp ước đã được sửa đổi nhiều lần kể từ năm 1957. Hiệp ước Maastricht năm 1992 đã loại bỏ từ "kinh tế" khỏi tiêu đề chính thức của Hiệp ước Rome cuối cùng năm 2009, Hiệp ước Lisbon đã đổi tên thành Hiệp ước về hoạt động của Liên minh châu Âu - Treaty on the Functioning of the European Union (TFEU).

TFEU xác định các nguyên tắc cơ bản và phạm vi của luật pháp EU. Mục đích của Hiệp ước là tạo nên một Liên minh thống nhất về cả kinh tế và chính trị, tăng cường gắn kết kinh tế, xã hội, lãnh thổ và đoàn kết giữa các nước EU. TFEU bao gồm 07 phần với 358 điều và phụ lục

4. Nội dung cơ bản quy định tự do di chuyển dịch vụ trong khuôn khổ pháp luật Liên minh Châu Âu

Tự do di chuyển dịch vụ trong EU bao gồm hai khía cạnh là tự do thành lập doanh nghiệp và tự do cung cấp dịch vụ: Những chủ thể theo quy định của Điều 54 TFEU đang hoạt động hợp pháp tại một Quốc gia Thành viên có thể: (i) thành lập và thực hiện hoạt động kinh doanh một cách ổn định và liên tục tại Quốc gia Thành viên khác (Điều 49 TFEU); hoặc (ii) tạm thời cung ứng dịch vụ tại nước EU khác mà không cần thành lập cơ sở kinh doanh (Điều 56 TFEU) mà không có bất cứ sự phân biệt đối xử nào về quốc tịch của các Thành viên.

Ngoại lệ: 

Theo quy định tại Điều 51 TFEU, các hoạt động liên quan đến việc thi hành quyền lực nhà nước (official authority) bị loại trừ khỏi quy định về tự do thiết lập và cung cấp dịch vụ. Các hoạt động liên quan đến việc thi hành quyền lực nhà nước được hiểu theo nghĩa hẹp. Cụ thể toàn bộ ngành nghề chỉ có thể bị loại trừ nếu toàn bộ hoạt động của nó được dành riêng cho việc thực thi quyền lực nhà nước, hoặc nếu có một phần dành riêng cho việc thực thi quyền lực nhà nước nhưng  không thể tách rời với phần còn lại.

Các trường hợp ngoại lệ cũng cho phép các Quốc gia Thành viên loại trừ việc sản xuất hoặc buôn bán vật liệu chiến tranh (Điều 346(1)(b) TFEU) và duy trì các quy định đối với người không mang quốc tịch để đảm bảo an ninh công cộng, sức khỏe cộng đồng, bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng (Điều 52(1) TFEU).

Để áp dụng ngoại lệ, các quốc gia thành viên phải chứng minh được tính cần thiết và phù hợp của biện pháp hạn chế. Việc áp dụng các biện pháp hạn chế phải được áp dụng theo nguyên tắc ưu tiên sử dụng biện pháp ít hạn chế nhất.

5. Tạm thời cung ứng dịch vụ tại nước EU khác mà không cần thành lập cơ sở kinh doanh

Điều 56 TFEU quy định:

“Trong khuôn khổ các điều khoản nêu dưới đây, cấm các hạn chế đối với quyền tự do cung cấp dịch vụ trong Liên minh của công dân của một  Quốc gia Thành viên được thành lập tại một Quốc gia Thành viên khác với Quốc gia Thành viên của công dân tiếp nhận dịch vụ.

Nghị viện và Hội đồng Châu Âu, bằng quyền lập pháp của mình, có thể mở rộng các quy định của Chương này cho công dân của một nước thứ ba để cung cấp dịch vụ và thành lập doanh nghiệp tại Liên minh.”

5.1 Phạm vi áp dụng

Theo quy định tại đoạn 1 Điều 56 TFEU, quy định này không áp dụng cho toàn bộ người cung ứng dịch vụ tại EU mà chỉ giới hạn trong phạm vi việc cung ứng và sử dụng dịch vụ có yếu tố xuyên biên giới. Theo đó nhà cung ứng dịch vụ và người sử dụng dịch vụ ở hai quốc gia thành viên EU khác nhau. Yếu tố xuyên biên giới có thể được mô tả thông qua bốn phương thức: thứ nhất, nhà cung ứng dịch vụ có thể di chuyển đến các quốc gia thành viên khác để cung ứng dịch vụ tại đó; thứ hai, người sử dụng dịch vụ có thể đi đến quốc gia của nhà cung ứng để sử dụng dịch vụ; thứ ba, bản thân dịch vụ di chuyển qua biên giới thông qua Internet; thứ tư, nhà cung ứng và người sử dụng dịch vụ cùng di chuyển qua một quốc gia thành viên thứ ba.

Phạm vi của điều 56 TFEU áp dụng đối với cả người cung cấp dịch và người tiêu dùng dịch vụ. Cụ thể, phạm vi của Điều 56 TFEU bao gồm cả người sử dụng dịch vụ, theo đó người sử dụng dịch vụ của một quốc gia thành viên EU có thể đi chuyển đến một quốc gia thành viên EU khác để sử dụng dịch vụ mà không phải chịu bất kỳ hạn chế nào. Quy định này cũng áp dụng cho người tiêu dùng dịch vụ là công dân nước ngoài EU sử dụng dịch vụ tại EU.Đối với người cung cấp dịch vụ, Điều 56 TFEU yêu cầu người cung cấp dịch vụ phải có quốc tịch và được thành lập tại Quốc gia Thành viên EU. Tuy nhiên, quyền tự do cung ứng dịch vụ cũng áp dụng đối với các công dân của một quốc gia ngoài EU nhưng có các quyền phát sinh (derived rights) từ mối quan hệ với công dân có quốc tịch của một quốc gia thành viên EU như quan hệ vợ-chồng, bố mẹ - con cái,.. Quyền phát sinh này sẽ được áp dụng nếu như việc hạn chế người có quyền phát sinh đó làm hạn chế quyền tự do cung cấp dịch vụ của người có quốc tịch của quốc gia thành viên EU. Ngoài ra, Điều 56 TFEU còn áp dụng đối với cả nhân viên của nhà cung cấp dịch vụ mà những nhân viên này tham gia trực tiếp vào hoạt động cung cấp dịch vụ tại quốc gia thành viên, kể cả nhân viên có quốc tịch ở quốc gia ngoài EU.

5.2 Hạn chế

Các hạn chế theo quy định của Điều 56 được hiểu là các biện pháp tạo ra sự phân biệt đối xử giữa công dân của một quốc gia thành viên đối với công dân của một quốc gia thành viên khác, dù ở hình thức trực tiếp hay gián tiếp. Hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp được là rõ hơn trong án lệ Van Binsbergen.

Trong án lệ này, Tòa đã đưa ra phán quyết rằng các hạn chế bao gồm các yêu cầu về quốc tịch (phân biệt đối xử trực tiếp) của người cung cấp dịch vụ hoặc yêu cầu phải cư trú thường xuyên tại nơi cung cấp dịch vụ (phân biệt đối xử một cách gián tiếp) đều bị cấm theo nghĩa của Điều 56 TFEU. Ngoài ra, án lê cũng mở rộng phạm vi của quy định cấm phân biệt đối xử theo điều 56 bao gồm cả sự phân biệt đối xử trên thực tế. Theo đó, án lệ này giúp làm rõ hơn về khái niệm sự phân biệt đối xử một cách gián tiếp, thuật ngữ này có thể được hiểu rằng mặc dù một quốc gia thành viên có thể áp dụng một cách công bằng cho cả nhà cung cấp dịch vụ trong và ngoài nước những trên thực tế lại có những biện pháp gây bất lợi hơn so với nhà cũng cấp dịch vụ trong nước cho nhà cung cấp dịch vụ từ quốc gia thành viên khác.

Điều 56 TFEU còn cấm tất cả các hạn chế đối với việc tự do cung cấp dịch vụ, kể cả các hạn chế này không có sự phân biệt đối xử với nhà cung cấp dịch vụ tại quốc gia thành viên sở tại. Trong án lệ Alpine Investments, 

Tòa cho rằng: “Khi một quốc gia thành viên đưa ra những quy đinh áp dụng với tất cả các tàu mà không có sự phân biệt đối xử đối giữa các nhà cung cấp dịch vụ trong nước hoặc bởi những người từ các Quốc gia Thành viên khác, nhưng lại có sự phân biệt giữa việc các tàu đó tham gia vận tải nội địa hay vận tải trong liên minh, và những quy định này tạo ra lợi thế hơn cho thị trường nội địa và các dịch vụ vận tải nội địa của Quốc gia Thành viên đó, sẽ bị coi là hạn chế quyền tự do cung cấp các dịch vụ vận tải biển trái với Quy định số 4055/86”.

Tương tự như các quyền tự do khác, quyền tự do cung ứng dịch vụ cũng có một số ngoại lệ. Các hạn chế theo quy định tại Điều 56 có thể được áp dụng nếu như việc áp dụng nhằm mục đích hợp pháp và được áp dụng theo cách thức phù hợp. Ngoại lệ của Điều này là ngoại lệ chung của tự do di chuyển dịch vụ.