Căn cứ pháp lý:

- Bộ Luật Hình sự Thuỵ Điển năm 1962;

- Bộ luật Hình sự Việt Nam 2015;

- Nghị định số 75/2010/NĐ-CP;

- Thông tư số 09/2010/TT-BVHTTDL.

1. Khiêu dâm trẻ em là gì?

Khiêu dâm trẻ em là nội dung khiêu dâm khai thác trẻ em để kích thích tình dục. Nó có thể được sản xuất với trẻ em tham gia trực tiếp hoặc tấn công tình dục một đứa trẻ (còn được gọi là hình ảnh lạm dụng tình dục trẻ em) hoặc nó có thể là khiêu dâm trẻ em được mô phỏng. Lạm dụng trẻ em xảy ra trong các hoạt động tình dục hoặc các hành vi phô diễn các bộ phận sinh dục hoặc khu vực xương mu được ghi lại trong quá trình sản xuất nội dung khiêu dâm trẻ em. Nội dung khiêu dâm trẻ em có thể sử dụng nhiều loại phương tiện, bao gồm các tác phẩm văn học, tạp chí, ảnh, tác phẩm điêu khắc, tranh vẽ, phim hoạt hình, ghi âm, phim, video, và trò chơi điện tử.

Các luật liên quan đến nội dung khiêu dâm trẻ em thường bao gồm các hình ảnh tình dục liên quan đến trẻ vị thành niên, tuổi dậy thì hoặc trẻ vị thành niên sau tuổi dậy thì và hình ảnh do máy tính tạo ra có liên quan đến chúng. Hầu hết những người sở hữu nội dung khiêu dâm trẻ em bị bắt được tìm thấy có hình ảnh của trẻ em trẻ sơ sinh; những người sở hữu hình ảnh khiêu dâm của trẻ vị thành niên sau tuổi dậy thì ít có khả năng bị truy tố, mặc dù những hình ảnh đó cũng nằm trong các đạo luật.

2. Quy định của Thuỵ Điển về hành vi khiêu dâm trẻ em

BLHS Thuỵ Điển ban hành từ năm 1962, có quy định thành các tội riêng biệt, tương ứng với các hành vi khách quan “bóc lột trẻ em trình diễn khiêu dâm” được quy định tại Điều 8 (Chương 6) và thực hiện một trong các hành vi “vẽ, phổ biến, mua bán, chiếm hữu hoặc môi giới để giao dịch các bức tranh khiêu dâm trẻ em, kết nối giữa người mua và người bán các bức tranh khiêu dâm trẻ em,... ” quy định tại Điều 10a (Chương 16).

Thông qua việc nghiên cứu các quy định trên, nhận thấy cả các điều luật quy định khách thể bị xâm phạm đều là sức khỏe, danh dự nhân phẩm của con người, của trẻ em. Đối tượng tác động của Điều 8 (Chương 6) quy định là trẻ em dưới 15 tuổi hẹp hơn so với Điều 147 BLHS Việt Nam quy định người dưới 16 tuổi. Cho thấy đối tượng dưới 15 tuổi được bảo vệ một cách tuyệt đối, trong bất kì trường hợp nào người phạm tội thực hiện hành vi khách quan của tội này đều bị truy cứu TNHS. Tuy nhiên, cũng tại Điều 8 (Chương 6) đặt ra vấn đề là nếu đối tượng bị tác động là trẻ em từ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi chỉ bị xử lí khi tính chất của việc trình diễn có thể gây hại cho sức khỏe hoặc sự phát triển của trẻ em, nếu không đáp ứng được điều kiện trên thì không bị áp dụng điều luật này. Bên cạnh đó, Điều 10a (Chương 16) BLHS Thụy Điển cũng không quy định về độ tuổi của đối tượng tác động mà chỉ quy định là trẻ em, cho thấy đối tượng tác động của điều luật này là những người dưới 18 tuổi. Điều này cho thấy, đối tượng tác động quy định của tội danh này quy định tại BLHS Thụy Điển được bảo vệ có phần rộng hơn so với Việt Nam.

3. Cấu thành tội khiêu dâm trẻ em

Hành vi khách quan của Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm là hành vi lôi kéo, dụ dỗ hoặc ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm dưới mọi hình thức. Còn đối với quy định của Điều 8 (Chương 6) BLHS Thụy Điển là khuyến khích hoặc bóc lột trẻ em dưới 15 tuổi thực hiện hoặc tham gia vào việc trình diễn khiêu dâm; là hành vi vẽ chân dung trẻ em trên bức tranh khiêu dâm, phổ biến, chuyển giao, cho phép sử dụng, trưng bày hoặc bằng cách khác làm bức tranh trẻ em, mua hoặc đề nghị mua bức tranh trẻ em, kết nối giữa người mua và người bán các bức tranh nói trên hoặc thực hiện biện pháp tương tự để thúc đẩy việc mua bán các bức tranh đó, hoặc chiếm hữu bức tranh trẻ em (Điều 10a BLHS Thụy Điển). Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt cuộc đối với Điều 147 BLHS Việt Nam và Điều 10a, Điều 8 (Chương 6) (nếu đối tượng là trẻ em dưới 15 tuổi). Tuy nhiên, nếu đối tượng tác động là trẻ em từ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi thì Điều 8 (Chương 6) lại quy định phải bắt buộc hậu quả có thể gây nguy hại cho sức khỏe hoặc sự phát triển. Qua đó cho thấy, BLHS Thụy Điển cho rằng việc thực hiện hành vi khách quan của tội phạm với đối tượng dưới 15 tuổi nguy hiểm hơn đối với đối tượng từ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi. Trong khi thực tế BLHS Việt Nam lại chưa có sự phân hóa trách nhiệm hình sự cụ thể theo đối tượng tác động như thế này. Đây là điểm tiến bộ mà Việt Nam cần học hỏi khi tiếp tục hoàn thiện quy định của Điều 147 để tránh bỏ lọt tội phạm.

Quy định tại Điều 147 BLHS Việt Nam nêu rõ chủ thể phạm tội này là người nào đủ 18 tuổi trở lên, đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và không phụ thuộc vào giới tính là nam hay nữ, còn tại Điều 10a và Điều 8 (Chương 6) không quy định cụ thể về độ tuổi của chủ thể chỉ quy định chung là: “...Người nào...”. Điều này cho thấy quy định của BLHS Thụy Điển không giới hạn độ tuổi của chủ thể phạm tội nên bất kể người nào thực hiện hành vi khách quan của tội này đều bị truy cứu TNHS.

Tại Điều 147 và Điều 8 (Chương 6) cho thấy cả hai quốc gia đều quy định tội danh này được đều thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi khách quan của tội phạm và mong muốn hậu quả xảy ra. Tuy nhiên, Điều 10a của BLHS Thụy Điển lại quy định tội danh này được thực hiện dưới cả hình thức lỗi cố ý hoặc vô ý. Qua đó cho thấy, quy định hình thức lỗi của BLHS Thụy Điển với tội danh này rộng hơn, thể hiện quan điểm nghiêm khắc của quốc gia này đối với hành vi khiêu dâm.

4. Hình phạt đối với tội khiêu dâm trẻ em

Nhìn chung hình phạt quy định tại Điều 8 (Chương 6) BLHS Thụy Điển là: “Phạt tiền hoặc tù đến hai năm” và “Từ 06 tháng tù đến 06 năm tù” (trong trường hợp phạm tội nghiêm trọng) hay phạt tù đến 02 năm về tội khiêu dâm trẻ em hoặc phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng thì bị phạt tiền hoặc tù đến 06 tháng và trong trường hợp bị coi là nghiêm trọng thì 06 tháng đến 04 năm (Điều 10a BLHS Thụy Điển) nhẹ hơn so với Điều 147 BLHS Việt Nam quy định mức cao nhất là 12 năm tù. Điều này cho thấy BLHS Việt Nam quy định hình phạt chính về tội phạm khiêu dâm trẻ em nghiêm khắc hơn. Tuy nhiên, hình phạt bổ sung tại điều này của BLHS Việt Nam chỉ quy định có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm; chưa quy định về hình phạt tiền như tại Điều 8 (Chương 6) nhưng điểm hạn chế của điều này là chưa quy định rõ khung hình phạt tiền mà chỉ quy định ở mức chung chung.

BLHS Thụy Điển quy định hình phạt đối với tội này là. Nhìn chung nhẹ hơn so với khung hình phạt của Điều 147 BLHS Việt Nam. Ngoài hình phạt tù có thời hạn thì BLHS Thụy Điển còn quy định thêm hình phạt tiền, đây cũng là một điểm tiến bộ để PLHS Việt Nam tiếp thu, học hỏi.

Tóm lại, qua nghiên cứu, phân tích, so sánh Điều 147 BLHS Việt Nam với BLHS của một số nước trên thế giới (như Nhật Bản, CHLB Đức, Thụy Điển) về tội phạm khiêu dâm trẻ em cho thấy: mặc dù BLHS Việt Nam đã có những quy định cụ thể về tội phạm này và có chế tài hình sự nghiêm khắc nhưng vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế cần phải tiếp tục tiếp thu, học hỏi những điểm tiến bộ của các nước trên thế giới để hoàn thiện hơn nữa các quy định của PLHS về tội phạm khiêu dâm trẻ em. Cụ thể là: Một là, mở rộng đối tượng tác động và chủ thể của tội danh này; Hai là, mở rộng hành vi khách quan của tội phạm này; Ba là, mở rộng hình thức lỗi của tội phạm này; Bốn là, mở rộng các loại hình phạt chính như bổ sung hình phạt tiền.

5. Tội khiêu dâm trẻ em theo Bộ luật Hình sự Việt Nam 2015

Hiện nay, có một số văn bản pháp lý của Việt Nam đã định nghĩa về khiêu dâm. Theo đó, khoản 5 Điều 3 Nghị định số 178/2004/NĐ-CP ngày 15/10/2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh phòng, chống mại dâm (sau đây gọi là Nghị định số 178/2004) giải thích về thuật ngữ khiêu dâm như sau: “Khiêu dâm là hành vi dùng cử chỉ, hành động, hình ảnh, âm thanh gây kích thích ham muốn tình dục”. Trong khi đó, Thông tư số 09/2010/TT-BVHTTDL ngày 24/8/2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết thi hành một số quy định tại Nghị định số 75/2010/NĐ-CP ngày 12/7/2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa định nghĩa cụ thể, rõ ràng hơn: “Khiêu dâm là hành vi dùng hình ảnh, ngôn ngữ, âm thanh, hành động khêu gợi, kích thích dâm ô, ham muốn tình dục trái với truyền thống đạo đức, thuần phong mỹ tục dân tộc Việt Nam, bao gồm: Mô tả bộ phận sinh dục, khỏa thân, mô tả khỏa thân hoặc không khỏa thân nhưng kích thích tình dục, mô tả nhu cầu tình dục, thủ dâm dưới mọi hình thức”.

Điều 147 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 quy định về tội “Sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm” như sau: “Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm dưới mọi hình thức, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Khái niệm “trình diễn khiêu dâm” và “trực tiếp chứng kiến trình diễn khiêu dâm” đã được cụ thể hóa trong Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP ngày 01/10/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của BLHS năm 2015 và việc xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi (sau đây gọi là Nghị quyết số 06/2019), theo đó: “Trình diễn khiêu dâm là hành vi dùng cử chỉ, hành động, lời nói, chữ viết, ký hiệu, hình ảnh, âm thanh nhằm kích thích tình dục người dưới 16 tuổi; phô bày bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, khỏa thân, thoát y hoặc thực hiện các động tác mô phỏng hoạt động tình dục (bao gồm giao cấu, thủ dâm và các hành vi tình dục khác) dưới mọi hình thức”; còn “trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm là trường hợp người dưới 16 tuổi trực tiếp chứng kiến người khác trình diễn khiêu dâm dưới mọi hình thức”.

Bài viết tham khảo:

1. Bàn về tội “Sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm”; Ths. Lê Xuân Lục (kiemsat.vn)

2. Kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia trên thế giới về tội phạm khiêu dâm trẻ em; TS. Nguyễn Thị Ngọc Linh; Nguyễn Khắc Đạt (Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử).