Căn cứ pháp lý:

- Bộ luật Hình sự Nhật Bản;

- Bộ Luật Hình sự Việt Nam 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

1. Khái Niệm tội khiêu dâm?

Hành vi khiêu dâm được hiểu là một người có những cử động và cử chỉ nhằm mục đích quyến rũ hoặc điều khiển bản năng tình dục của người khác. Có thể được phân loại thành các loại sau:

- Khiêu dâm bằng cử chỉ: Những người thực hiện hành vi khiêu dâm (thường là phụ nữ) sẽ ăn mặc hở hang, gợi cảm hoặc thực hiện nhiều kích thích tình dục như tự xoa, cởi hoặc để lộ quần áo. trong khu vực bí mật. Những người mạnh mẽ hơn, gợi tình có thể kích thích đối tượng họ muốn đạt được bằng cách chạm hoặc chạm vào cơ thể họ.

- Hình ảnh, video khiêu dâm: Việc sử dụng hình ảnh, video (thường thấy ở các cô gái) trong tư thế nhạy cảm hoàn toàn hoặc một phần, nhạy cảm.

- Khiêu dâm bằng lời nói: Dụ dỗ khán giả bằng những từ ngữ liên quan đến tình dục nghiêm trọng hoặc nhẹ, khiến người đó mất kiểm soát.

2. Quy định của pháp luật Nhật Bản về hành vi khiêu dâm trẻ em

Các tội phạm về khiêu dâm của BLHS Nhật Bản được quy định tại Chương XXII “Các tội khiêu dâm, hiếp dâm và song hôn”. Bao gồm 4 Điều từ Điều 174 đến Điều 176 và Điều 181: Tội khiêu dâm công khai (Điều 174); Tội phân phối các sản phẩm khiêu dâm (Điều 175); Tội khiêu dâm cưỡng bức (Điều 176); Tội khiêu dâm cưỡng bức dẫn đến chết người hoặc gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe (Điều 181). Nội dung quy định cụ thể như sau:

Trên cơ sở các quy định về tội phạm khiêu dâm trong BLHS Nhật Bản và đối chiếu, so sánh với với quy định về Tội sử dụng trẻ em vào mục đích khiêu dâm tại Điều 147 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung 2017, tác giả nhận thấy:

Thứ nhất, Điều 174, 175, 176, 181 BLHS Nhật Bản và Điều 147 BLHS Việt Nam đều có chung khách thể là xâm phạm về danh dự, nhân phẩm. Nhưng độ tuổi đối tượng bị tác động của tội khiêu dâm của Nhật Bản thì chỉ được quy định tại Điều 176: “Người nào dùng vũ lực hoặc đe dọa mà thực hiện hành vi khiêu dâm đối với người nam hoặc người nữ khác từ 13 tuổi trở lên...”. Qua đó cho thấy, đối tượng tác động của tội này theo quy định của Nhật Bản là nam hoặc nữ từ 13 tuổi trở lên, rộng hơn, cụ thể về giới tính so với quy định đối tượng tác động là trẻ em dưới 16 tuổi của Điều 147.

Thứ hai, BLHS của hai nước quy định tương đối khác nhau về hành vi khách quan. Hành vi khách quan của tội này theo quy định của BLHS Nhật Bản khá đa dạng, phong phú, bao gồm:  hành vi khiêu dâm một cách công khai (Đ174), hành vi phân phối, bán hoặc công khai trưng bày các tài liệu có tính khiêu dâm dưới dạng viết, tranh ảnh hoặc sản phẩm khác (Đ175), dùng vũ lực hoặc đe dọa mà thực hiện hành vi khiêu dâm đối với người nam hoặc người nữ khác từ 13 tuổi trở lên/dưới 18 tuổi (Đ176). Trong khi hành vi khách quan của Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Đ147) thì bó hẹp hơn khi chỉ quy định “là hành vi lôi kéo, dụ dỗ hoặc ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm dưới mọi hình thức”. Bên cạnh đó, nếu các yếu tố trong mặt khách quan của Điều 147 BLHS 2015 phản ánh đây là tội phạm cấu thành hình thức thì quy định của tội danh này ở Điều 174, 175, 176 của BLHS Nhật Bản cũng thể hiện là tội phạm cấu thành hình thức khi không yêu cầu bắt buộc dấu hiệu hậu quả. Tuy nhiên, tại Điều 181 của BLHS Nhật Bản lại quy định cấu thành tội phạm này là cấu thành tội phạm vật chất khi quy định hậu quả là chết người hoặc gây thương tích, gây tổn hại sức khỏe. Qua đó cho thấy, quy định cấu thành tội phạm tội này của BLHS Nhật Bản đa dạng và linh hoạt hơn quy định của BLHS Việt Nam.

Thứ ba, chủ thể của tội khiêu dâm được BLHS Nhật Bản quy định tại Điều 174 là bất cứ “Người nào”. Trong khi, chủ thể của tội này lại được BLHS Việt Nam quy định là “Người nào đủ 18 tuổi trở lên”.  Điều này cho thấy, chủ thể của tội này theo quan điểm của Nhật Bản rộng hơn rất nhiều so với Việt Nam. Ở Việt Nam, chủ thể thực hiện tội này chỉ có thể là những người đủ 18 tuổi trở lên theo quy định của pháp luật hình sự, trong khi đó thực tiễn cho thấy có những người dưới độ tuổi này cũng thực hiện hành vi sử dụng trẻ em vào mục đích khiêu dâm nhưng lại không thể xử lí. Vì vậy, quy định của BLHS Nhật Bản về chủ thể là một kênh tham khảo để Việt Nam cân nhắc trong việc hạ độ tuổi chủ thể của tội phạm này cho phù họp với thực tiễn.

Thứ tư, về mặt chủ quan, cả hai quốc gia đều quy định tội danh này được thực hiện dưới một hình thức lỗi duy nhất là lỗi cố ý trực tiếp và đều quy định mục đích không phải là dấu hiệu bắt buộc với tội danh này. Tuy nhiên, tên tội danh này của BLHS Việt Nam lại quy định rõ việc sử dụng đối tượng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm thì phạm tội này. Trong khi bản chất mục đích của người phạm tội là để cho người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm hoặc chứng kiến trình diễn khiêu dâm nhằm để kích dục, khiêu gợi ham muốn tình dục đối với người quan sát hành vi chứ không nhằm mục đích giao cấu hoặc thỏa mãn tình dục trực tiếp. Qua đó cho thấy, cách đặt tên tội danh của BLHS Việt Nam chưa thật sự phù hợp và dễ gây hiểu không thống nhất, nhầm lẫn về bản chất của tội danh này.

Thứ năm, về chế tài, BLHS của cả hai nước đều thể hiện đường lối xử lí về tội phạm khiêu dâm khá nghiêm khắc thông qua việc quy định về các khung hình phạt cụ thể. Khung hình phạt quy định tại Điều 174 175, 176, 181 BLHS Nhật Bản lần lượt ở mức cao nhất là 06 tháng, 02 năm tù, 07 năm tù, 03 năm tù, nhẹ hơn khung hình phạt của Điều 147 BLHS Việt Nam. Điểm khác biệt là hai Điều 174 và 175 quy định thêm hình phạt tiền còn tại Điều 147 BLHS Việt Nam không có quy định hình phạt tiền. Qua đó nhận thấy, BLHS Việt Nam mặc dù quy định hình phạt tù nghiêm khắc hơn những loại hình phạt áp dụng cho tội danh này lại không đa dạng phong phú bằng BLHS Nhật Bản.

Trên cơ sở những phân tích, đối chiếu so sánh trên, cho thấy BLHS Việt Nam có thể học hỏi những điểm tiến bộ của BLHS Nhật Bản như mở rộng hành vi khách quan của tội phạm, mở rộng đối tượng tác động và chủ thể của tội phạm cũng như bổ sung thêm hình phạt tiền đối với tội phạm này.

3. Nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội xâm hại tình dục ở Việt Nam

- Tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự.

- Áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với các hành vi vi phạm luân thường, đạo đức; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; lợi dụng nghề nghiệp, công việc; xâm hại người dưới 13 tuổi.

- Áp dụng các hình phạt bổ sung cao nhất theo quy định của Bộ luật Hình sự và các đạo luật khác có liên quan. Trong trường hợp cần thiết có thể cấm đảm nhiệm chức vụ, hành nghề liên quan đến người dưới 16 tuổi.

4. Tổ chức xét xử vụ án xâm hại tình dục có bị hại là người dưới 18 tuổi ở Việt Nam

- Thời hạn xét xử vụ án xâm hại tình dục có bị hại là người dưới 18 tuổi được thực hiện như sau:

+ Áp dụng thủ tục rút gọn đối với các trường hợp đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

+ Đưa các vụ án khác ra xét xử trong thời hạn không quá ½ thời hạn pháp luật cho phép đối với các trường hợp tương ứng.

- Khi xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi, Tòa án phải thực hiện:

+ Xét xử kín, tuyên án công khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Khi tuyên án, Hội đồng xét xử chỉ đọc phần quyết định trong bản án.

+ Phân công Thẩm phán có kiến thức hoặc kinh nghiệm xét xử các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi.

+ Khi tham gia xét xử, Thẩm phán mặc trang phục làm việc hành chính của Tòa án nhân dân, không mặc áo choàng.

+ Xử án tại Phòng xét xử thân thiện theo đúng quy định tại Thông tư số 01/2017/TT-TANDTC ngày 28 tháng 7 năm 2017 và Thông tư số 02/2018/TT-TANDTC ngày 21 tháng 9 năm 2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

+ Có sự tham gia của người đại diện, người giám hộ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi.

- Khi xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi, căn cứ vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể, Tòa án cần thực hiện:

+ Hạn chế triệu tập bị hại là người dưới 18 tuổi đến phiên tòa nếu vẫn  giải quyết được vụ án bằng việc áp dụng các biện pháp thay thế khác (ví dụ: sử dụng lời khai của họ ở giai đoạn điều tra, truy tố; mời họ đến Tòa án hoặc địa điểm hợp pháp khác để lấy lời khai trước bằng văn bản, bằng ghi âm, ghi hình có âm thanh…).

+ Trường hợp phải triệu tập bị hại là người dưới 18 tuổi đến phiên tòa, Tòa án cần tạo điều kiện để họ làm quen, tiếp xúc với môi trường Tòa án, với quy trình và thủ tục xét xử; bố trí cho họ ngồi ở phòng cách ly và sử dụng các thiết bị điện tử (ví dụ: micro, loa, ti vi, camera...) để không làm ảnh hưởng đến tâm lý của họ khi họ khai báo, tham gia tố tụng tại phiên tòa; trường hợp không bố trí được phòng cách ly thì để họ ngồi ở phòng xử án nhưng phải có màn che ngăn cách với khu vực của bị cáo và khoảng cách giữa Hội đồng xét xử với người bị hại là người dưới 18 tuổi không quá 03 mét.

+ Câu hỏi đối với bị hại là người dưới 18 tuổi phải phù hợp với lứa tuổi, mức độ phát triển, trình độ văn hóa, hiểu biết của họ. Câu hỏi cần ngắn gọn, rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu; không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc; chỉ đặt câu hỏi làm rõ tình tiết vụ án; không đặt câu hỏi chỉ để tranh luận. Câu hỏi đối với bị hại dưới 10 tuổi không quá 10 từ và thời gian hỏi không liên tục quá 01 giờ.

+ Sử dụng sơ đồ hoặc mô hình cơ thể có đánh số thứ tự các bộ phận để người bị hại là người dưới 18 tuổi xác định các bộ phận bị xâm hại.

+ Khi bị cáo đề nghị được hỏi bị hại là người dưới 18 tuổi thì phải chuyển câu hỏi cho người bào chữa hoặc Hội đồng xét xử hỏi.

- Khi xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi, Tòa án không được:

+ Yêu cầu bị hại là người dưới 18 tuổi tường thuật lại chi tiết quá trình phạm tội.

+ Sử dụng câu hỏi có tính chất công kích, đe dọa, gây xấu hổ, xúc phạm bị hại.

+ Đối chất giữa bị hại với người phạm tội tại phiên tòa.

+ Xác định bộ phận bị xâm hại bằng cách để bị hại là người dưới 18 tuổi chỉ trực tiếp vào bộ phận cơ thể của mình hoặc của người khác.

+ Để bị cáo hỏi trực tiếp bị hại là người dưới 18 tuổi.

+ Buộc bị hại là người dưới 18 tuổi phải đứng khi tham gia tố tụng tại phiên tòa.

+ Công khai bản án, quyết định của Tòa án liên quan đến vụ án trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án.

- Tòa án phải xem xét và đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ phù hợp theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự khi bị hại, người thân thích của bị hại yêu cầu hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền kiến nghị bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của bị hại, người thân thích của họ.

- Tuân thủ các quy định khác của Bộ luật Tố tụng hình sự; hướng dẫn tại Thông tư số 02/2018/TT-TANDTC ngày 21/9/2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các văn bản hướng dẫn thi hành khác có liên quan.

5. Các trường hợp loại trừ xử lý hình sự

- Không xử lý hình sự theo quy định tại Điều 146 (Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi) của Bộ luật Hình sự nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

+ Người trực tiếp chăm sóc, giáo dục người dưới 10 tuổi, người bệnh, người tàn tật, có hành vi tiếp xúc với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm của họ nhưng không có tính chất tình dục (ví dụ: cha, mẹ tắm rửa, vệ sinh cho con dưới 10 tuổi; giáo viên mầm non tắm rửa, vệ sinh cho trẻ mầm non...).

+ Người làm công việc khám, chữa bệnh, chăm sóc y tế; người cấp cứu, sơ cứu người bị nạn có hành vi tiếp xúc với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, bộ phận khác của người dưới 16 tuổi nhưng không có tính chất tình dục (ví dụ: bác sĩ khám, chữa bệnh cho bệnh nhân; sơ cứu, cấp cứu người bị tai nạn, người bị đuối nước...).

- Không xử lý hình sự theo quy định tại Điều 147 (Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm) của Bộ luật Hình sự đối với trường hợp người làm công tác giáo dục, khám, chữa bệnh, chăm sóc y tế mô tả bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm của con người vì mục đích giáo dục, khám, chữa bệnh, chăm sóc y tế.

Nghị quyết có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05/11/2019. Trường hợp người phạm tội đã bị xét xử trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực theo đúng các quy định, hướng dẫn trước đây và bản án đã có hiệu lực pháp luật thì không căn cứ vào Nghị quyết này để kháng nghị theo thủ tục  giám đốc thẩm, tái thẩm.

Bài viết tham khảo:

1. Bàn về tội “Sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm”; Ths. Lê Xuân Lục (kiemsat.vn)

2. Kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia trên thế giới về tội phạm khiêu dâm trẻ em; TS. Nguyễn Thị Ngọc Linh; Nguyễn Khắc Đạt (Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử).